BÀI VIẾT LIÊN QUAN
- LUẬN CÂU XÁ ĐẠI CƯƠNG | HT. THÍCH THIỆN SIÊU
- LUẬN PHẬT THỪA TÔNG YẾU – THÁI HƯ Đại Sư trước tác – H.T THÍCH NHẬT QUANG dịch

LUẬN CÂU XÁ
Nguyên tác Phạn ngữ: Abhidharmakośa – Thế Thân (Vasubandhu) trước tác
Bản dịch Hán: A-tỳ-đạt-ma-câu-xá luận của Đường Huyền Trang
Việt dịch: Đạo Sinh
Luận Câu Xá (tiếng Phạn: Abhidharmakośa-śāstra, chữ Hán: 阿毗達磨俱舍論) là một bộ luận cực kỳ quan trọng của Phật giáo do đại sư Thế Thân (Vasubandhu) biên soạn vào thế kỷ thứ 5 tại vùng Kashmir, Ấn Độ. Tên đầy đủ của bộ luận này là A-tì-đạt-ma Câu-xá luận, mang ý nghĩa là “Kho báu của A-tì-đạt-ma” hoặc “Đối pháp tạng luận”.
Đây được coi là cuốn “bách khoa toàn thư” chứa đựng toàn bộ giáo lý Phật giáo từ Nguyên thủy đến bộ phái, làm nền tảng vững chắc để người học tiến lên đại thừa.
Cấu Trúc Và Nội Dung Tổng Quan
Bộ luận gồm 600 bài kệ tụng ngắn gọn và phần văn xuôi giải thích. Toàn bộ nội dung được chia làm 9 phẩm (29 hoặc 30 quyển):
- Phẩm 1: Phân biệt Giới – Giải thích về các thành phần cấu tạo nên vũ trụ và con người (Uẩn, Xứ, Giới).
- Phẩm 2: Phân biệt Căn – Nói về các năng lực nhận thức và tâm lý của con người.
- Phẩm 3: Phân biệt Thế gian – Mô tả về cấu trúc vũ trụ, các cõi sống và vòng luân hồi.
- Phẩm 4: Phân biệt Nghiệp – Giải thích về hành vi (thân, miệng, ý) tạo ra số phận của con người.
- Phẩm 5: Phân biệt Tùy miên – Nói về các loại phiền não, gốc rễ gây ra đau khổ.
- Phẩm 6: Phân biệt Hiền thánh – Chỉ ra các tầng lớp, quả vị tu tập từ người phàm đến bậc Thánh.
- Phẩm 7: Phân biệt Trí – Nói về các loại trí tuệ cần có để xóa bỏ mê lầm.
- Phẩm 8: Phân biệt Định – Hướng dẫn về các trạng thái thiền định.
- Phẩm 9: Phá ngã – Phần bổ sung để bác bỏ quan niệm sai lầm về một cái “Tôi” cố định.
Giá Trị Của Luận Câu Xá
- Chiếc cầu nối giáo lý: Luận Câu Xá đúc kết tinh hoa của Thuyết nhất thiết hữu bộ (một bộ phái Phật giáo Nguyên thủy lớn). Nhưng tác giả Thế Thân đã đứng trên góc nhìn tiến bộ để phê phán những điểm chưa hợp lý, dọn đường cho tư tưởng Đại thừa phát triển.
- Bản đồ tu học rõ ràng: Bộ luận chỉ ra rất rõ hai mặt: Nhiễm ô (vì sao chúng ta khổ, luân hồi thế nào) và Thanh tịnh (làm sao để tu hành, đạt Niết-bàn).
- Môn học bắt buộc: Tại các trường Phật học lớn ở Việt Nam và Đông Á, Luận Câu Xá là môn học bắt buộc cho tăng ni sinh để hiểu sâu về tâm lý học và vũ trụ quan Phật giáo.

Thế Thân (zh. shìqīn 世親, ja. seshin, sa. vasubandhu, bo. dbyig gnyen དབྱིག་གཉེན་), ~316–396, cũng được dịch là Thiên Thân (zh. 天親), gọi theo Hán âm là Bà-tu-bàn-đầu (zh. 婆修盤頭), Bà-tẩu-bàn-đậu (zh. 婆藪槃豆), là một Luận sư xuất sắc của Thuyết nhất thiết hữu bộ (sa. sarvāstivādin) và Duy thức tông (sa. vijñānavādin), được xem là Tổ thứ 21 của Thiền tông Ấn Độ. Người ta cho rằng Sư sinh tại Peshāwar (địa danh ngày nay), sống tại Kashmir và chết tại A-du-đà (ayodhyā). Sư vừa là em vừa là đệ tử của Vô Trước (sa. asaṅga), người sáng lập phái Duy thức. Vô Trước là người đã khuyến dụ Thế Thân theo Đại thừa.
Có nhiều giả thuyết về con người Thế Thân, trong đó Erich Frauwallner – một nhà Phật học người Đức – cho rằng có hai người tên Thế Thân, một là luận sư của Thuyết nhất thiết hữu bộ, là người soạn A-tì-đạt-ma-câu-xá luận nổi danh của phái này. Người kia là em của Vô Trước, đã soạn bộ Duy thức nhị thập luận. Thuyết này đã bị Lê Mạnh Thát biện bác trong tác phẩm Triết học Thế Thân (The Philosophy of Vasubandhu). Bộ Duy thức nhị thập luận này là sự tổng kết quan điểm của Duy thức tông, được dịch ra chữ Hán và Tây Tạng. Sư cũng là tác giả của Duy thức tam thập tụng, luận giải quan điểm của Duy thức tông, cũng như tác giả của nhiều bài luận về các tác phẩm của Vô Trước và về giáo lý Đại thừa như Thập địa, Kim cương kinh, Diệu pháp liên hoa kinh, A-di-đà kinh (sa. sukhāvatī-vyūha).
Sư sinh ra trong một gia đình Bà-la-môn, một năm sau khi người anh là Vô Trước thụ giới cụ túc. Lúc đầu, Sư học giáo lý Phật giáo Nguyên thủy tại Phú-lâu-sa-phú-la (sa. Puruṣapura), sau đó tại Kashmir. Sau bốn năm ngụ tại Kashmir (342–346), Sư trở về Phú-lâu-sa-phú-la và soạn bộ A-tì-đạt-ma-câu-xá luận (sa. abhidharmakośa). Sau đó, Sư đi du phương và danh tiếng của Sư là một nhà biện luận xuất chúng vang dội. Khi gặp Vô Trước tại Phú-lâu-sa-phú-la và được người anh giảng giải giáo lý Đại thừa, Sư bỗng nhiên tỉnh ngộ, bắt đầu say mê nghiên cứu Đại thừa và viết luận về kinh điển hệ này, nhất là Bát-nhã-ba-la-mật-đa kinh. Sư biên soạn nhiều bài luận, trong đó Sư hệ thống hóa tư tưởng “Duy thức” được lập nên bởi Vô Trước.
Khoảng năm 383, vua Candragupta II. Vikramāditya (Siêu Nhật) mời Sư làm đạo sư cho vương tử Govindagupta Bālāditya (Tân Nhật) trong cung điện tại A-du-đà (ayodhyā). Sư nhận lời và nhân thời cơ này khuyến khích vương triều làm những việc thiện như xây dựng bệnh viện, trường học và nhà ở công cộng. Sau đó một thời gian, Sư cũng hoằng hoá tại viện Na-lan-đà. Đệ tử xuất sắc nhất của Sư là nhà Nhân minh học lừng danh Trần-na (sa. diṅnāga). Sau khi Govindagupta lên ngôi, ông lại mời Sư đến triều đình giảng dạy và định cư tại đây. Sư nhận lời mời nhưng vẫn thường hay du phương và tuỳ cơ giáo hoá. Những bài luận cuối cùng của Sư được soạn tại Shakala (sa. śākala) và Kiều-thướng-di (sa. kauśambī). Năm 396, Sư tịch tại A-du-đà (một thuyết khác là tại Nepāl).
Các tác phẩm còn lưu lại dưới tên Sư (trích):
- A-tì-đạt-ma-câu-xá luận (sa. abhidharmakośaśāstra), bao gồm A-tì-đạt-ma-câu-xá luận tụng (sa abhidharmakośa-śāstra-kārikā) và A-tì-đạt-ma-câu-xá luận thích (sa. abhidharmakośa-bhāṣya);
- Duy thức nhị thập luận (tụng) (sa. viṃśatikāvijñāptimātratāsiddhi-kārikā), còn bản Tạng và Hán ngữ. Có ba bản Hán văn, Huyền Trang dịch 1 quyển, Chân Đế (sa. paramārtha) dịch riêng 1 quyển dưới tên Đại thừa duy thức luận, Bát-nhã-lưu-chi (sa. prajñāruci) dịch 1 quyển dưới tên Duy thức luận;
- Duy thức nhị thập luận thích (sa. viṃśatikā-vṛtti), còn bản Tạng và Phạn;
- Duy thức tam thập tụng (sa. triṃśikā-vijñāptimātratāsiddhi-kārikā), còn bản Tạng và Hán ngữ, Huyền Trang dịch, 1 quyển;
- Tam tính luận (sa. trisvabhāva-nirdeśa), còn bản Phạn và Tạng ngữ;
- Biện trung biên luận thích (sa. madhyānta-vibhāga-bhāṣya), còn bản Tạng và Hán ngữ, Huyền Trang dịch;
- Kim cương bát-nhã-ba-la-mật kinh luận (sa. vajracchedikā-prajñāpāramitā-sūtra-śāstra), chỉ còn bản Hán ngữ;
- Thập địa kinh luận (sa. ārya-daśabhūmi-vyākhyāna), còn bản Tạng và Hán ngữ, bản Hán ngữ được Bồ-đề-lưu-chi (sa. bodhiruci) dịch;
- Đại thừa kinh trang nghiêm luận thích (sa. mahāyāna-sūtralaṅkāra-vyākhyā), còn bản Tạng và Hán ngữ;
- Nhiếp đại thừa luận thích (sa. mahāyānasaṃgraha-bhāṣya), còn bản Tạng và Hán ngữ. Có ba bản Hán văn, Huyền Trang dịch gồm 10 quyển, Chân Đế dịch gồm 15 quyển, Đạt-ma-cấp-đa (sa. dharmagupta) dịch riêng 10 quyển dưới tên Nhiếp Đại thừa thích luận;
- Ngũ uẩn luận (sa. pañcaskandha-prakaraṇa), chỉ còn bản Tạng và Hán ngữ;
- Phật tính luận (sa. buddhagotra-śāstra), Chân Đế dịch, 4 quyển;
- Đại thừa bách pháp minh môn luận (sa. mahāyāna-śatadharmavidyā-dvāra-śāstra), 1 quyển, Huyền Trang dịch;
- Diệu pháp liên hoa kinh ưu-ba-đề-xá (sa. saddharmapuṇḍarīka-sūtropadeśa), 2 quyển, Bồ-đề-lưu-chi cùng Đàm Lâm dịch;
- Chuyển pháp luân kinh ưu-ba-đề-xá (sa. dharmacakra-pravartana-sūtropadeśa), 1 quyển, Tì-mục Trí Tiên dịch;
- Vô lượng thọ kinh ưu-ba-đề-xá (sa. amitāyussūtropadeśa), 1 quyển, Bồ-đề-lưu-chi dịch;
- Lục môn giáo thụ tập định luận (Phạn?), 1 quyển, Nghĩa Tịnh dịch;
- Niết-bàn kinh bản hữu kim vô kệ luận (Phạn?), 1 quyển, Chân Đế dịch;
- Niết-bàn luận (Phạn?), 1 quyển, Đạt-ma-bồ-đề (sa. dharmabodhi) dịch;
- Như thật luận;
- Thắng tư duy phạm thiên sở vấn kinh luận;
- Thành nghiệp luận (sa. karmasiddhi-prakaraṇa), còn bản Hán và Tạng ngữ;
- śīlaparikathā, một bài luận ngắn về giới, cho rằng giữ giới luật hiệu nghiệm hơn bố thí (dāna), chỉ còn bản Tạng ngữ;
- Duyên khởi kinh thích (sa. pratītyasamutpāda-sūtrabhāṣya), một phần Phạn ngữ đã được tìm lại, giáo sư Giuseppe Tucci xuất bản.
Tham khảo
- Fo Guang Ta-tz’u-tien 佛光大辭典. Fo Guang Ta-tz’u-tien pien-hsiu wei-yuan-hui 佛光大辭典編修委員會. Taipei: Fo-guang ch’u-pan-she, 1988. (Phật Quang Đại Từ điển. Phật Quang Đại Từ điển biên tu uỷ viên hội. Đài Bắc: Phật Quang xuất bản xã, 1988.)
- Das Lexikon der Östlichen Weisheitslehren, Bern 1986.

Huyền Trang (玄奘 602–664), tục danh Trần Huy (陳禕), cũng thường được gọi là Đường Tam Tạng (唐三藏) hay Đường Tăng (唐僧), là một cao tăng Trung Quốc, một trong bốn dịch giả lớn nhất, chuyên dịch kinh sách Phạn ngữ ra tiếng Hán. Nhà sư cũng là người sáng lập Pháp tướng tông (法相宗), một dạng của Duy thức tông (zh. 唯識宗, sa. yogācāra, vijñānavāda) tại Trung Quốc. Danh hiệu Tam Tạng được giới tăng sĩ tôn xưng để tôn vinh ông là người tinh thông cả Tam tạng trong Kinh điển Phật giáo.







![[TRUYỀN HÌNH TRỰC TIẾP] Trọng thể khai mạc Đại lễ Vesak Liên Hiệp Quốc 2025 tại TP.HCM](https://chuatutam.net/wp-content/uploads/2025/05/vesak-360x180.jpg)






















Thảo luận về post