BÀI VIẾT LIÊN QUAN
- Sơ Đồ Tu Học Đại Thừa – Nghiên Cứu và Áp Dụng Kinh Điển | HT. Thái Hòa giảng || Tự Tâm già lam
- GIỚI HỌC HOA NGHIÊM – HOÀ THƯỢNG THÍCH THÁI HOÀ GIẢNG
- LUẬN PHẬT THỪA TÔNG YẾU – THÁI HƯ Đại Sư trước tác – H.T THÍCH NHẬT QUANG dịch
- LUẬN CÂU XÁ ĐẠI CƯƠNG | HT. THÍCH THIỆN SIÊU
- LUẬN CÂU XÁ – Trước tác: THẾ THÂN (Abhidharmakośa – Vasubandhu) | Hán dịch: Đường Huyền Trang – Việt Dịch: Đạo Sinh

Lời Khuyến Tấn – Tâm Chí Của Người Xuất Gia – HT. Thái Hòa giảng
(Nguồn video: Luật Viện Huệ Nghiêm)
Tu không thể thiếu học, học cái gì thích ứng với sự tu hành để nâng cao phẩm chất tu hành của chúng ta lên. Người đời cần chúng ta là cần Phật pháp chứ không phải cần cái của người đời. Tổ chúng ta đã nói: “Vạn trung vô nhất” (Trong vạn người khó tìm được một người tu đúng nghĩa). Lời dạy ấy là trải dài của một sự kinh nghiệm bao đời, cho nên đừng có thấy đông mà mừng nghe. Cho nên, mình cố gắng phấn đấu để là “một” đúng nghĩa mà Thầy Tổ mong đợi, xứng đáng với niềm tin của Phật tử và xã hội… Chúng ta nguyện đời đời kiếp kiếp làm bà con quyến thuộc trong ánh đạo từ bi, giúp nhau mở ra sự ràng buộc chứ không phải tạo ra oan khiên nghiệt ngã. Có oan nào thì xin giải tỏa, có ân nào thì xin hiến tặng cho nhau; có như thế thì sự có mặt của chúng ta mới thật có ý nghĩa.
NỘI DUNG BÀI CHIA SẺ CỦA HÒA THƯỢNG – BÀI GIẢNG:
GIỚI HỌC HOA NGHIÊM – Tăng ni sinh khóa 10 – Hòa thượng Thích Thái Hòa
Trước khi học thì có mấy điều tôi cần chia sẻ với quý thầy, quý cô. Điều thứ nhất, môn học tôi chia sẻ đến quý thầy, quý cô là môn học Giới học Hoa Nghiêm. Dạy học kinh Hoa Nghiêm là dạy như vậy cho hai khóa trước rồi và bây giờ là tiếp tục chứ không có quay lại. Vì vậy mà quý thầy, quý cô kiếm lại Giới học kinh Hoa Nghiêm của cả hai khóa trước để mà học để khỏi mất thời gian mình học được nhiều. Cho nên quý thầy, quý cô tập trung để mà học, để mà tu bởi vì nơi đây chỉ vỏn vẹn một năm thôi, nó đi qua nhanh lắm.
Và các vị giáo thọ cũng lớn tuổi cả rồi. Ngài Luật chủ năm nay 81 rồi, Ngài Giáo thọ cũng trên 70 rồi, tôi cũng trên 70 rồi. Cho nên quý thầy, quý cô tranh thủ mà học. Cái gì đã có tư liệu rồi thì mình tìm học, còn cái gì mà chưa có tư liệu thì các Ôn, các thầy trực tiếp dạy đó. Và sau đó là tư liệu để lại cho các thầy, các cô nghiên cứu rồi tiếp nối những thế hệ sau các thầy, các cô nữa; có như vậy thì chánh pháp mới trường tồn.
Đó, Giới học Hoa Nghiêm là hiện nay đang dạy 10 hạnh nguyện của Bồ Tát Phổ Hiền và đã đi qua được hoàn toàn bốn hạnh nguyện rồi. Bây giờ là hạnh nguyện thứ năm là Tùy hỷ công đức. Đó là nói về cái pháp học mà tôi trực tiếp chia sẻ với quý vị trong cái niên khóa này. Thứ hai là nói đến pháp hành. Mình học để mà hành; nếu mà học mà không hành thì mình không biết cái học của mình đúng hay sai. Muốn biết cái học của mình đúng hay sai, thực tế hay không thực tế là mình phải hành, phải thực tập.
Và do cái sự thực tập pháp mà mình giảng trạch được pháp này là phù hợp với mình, phù hợp với nhân duyên tu học của mình hôm nay, và có những pháp mình học hôm nay nhưng mà nó sẽ phù hợp với mình ngày mai, ngày mai nữa hay 10 năm sau hay 20 năm sau. Cho nên mình học mình phải hành mà qua cái hạnh đó thì mình mới giảng trạch được pháp để mình sống với pháp và có an lạc ở trong pháp. Pháp học, pháp hành rồi thì mình mới đi tới gọi là pháp chứng, chứng nghiệm đối với pháp đó. Học mà không hành thì không bao giờ có pháp chứng. Và sau khi mà có cái sự kiểm chứng, có cái nội chứng từ bên trong thì chúng ta mới đi tới được một bước nữa là pháp thành, tức là chúng ta thành tựu đối với pháp từng phần và toàn phần.
Thì quý thầy, quý cô biết rằng kinh Hoa Nghiêm là một bộ kinh mà nói về toàn phần của sự giác ngộ. Cho nên học bất cứ kinh nào, trải qua bất cứ trường lớp nào ở trong Phật giáo mà chưa đi qua kinh Hoa Nghiêm thì rõ ràng là cái học của mình chưa hoàn tất. Cái học của mình đối với Sự chưa hoàn tất, cái học của mình đối với Lý chưa hẳn hoàn tất, cái học của mình đối với Quả chưa hoàn tất. Cho nên học bất cứ kinh điển nào rồi cũng phải đi qua Hoa Nghiêm. Không có Hoa Nghiêm thì không trang nghiêm cõi Phật được. Kinh Hoa Nghiêm là nói về các vị Bồ Tát trang nghiêm cõi Phật, cho nên trang nghiêm cõi Phật chính là các vị Bồ Tát. Đời sống của các vị Bồ Tát là hoa, cho nên dùng hoa để mà trang nghiêm cõi Phật.
Hôm nay quý thầy, quý cô có duyên đến Luật viện Huệ Nghiêm để học, đó là một điều mà rất nhiều người mơ ước. Còn một sư bà gần trăm tuổi, bà nói với tôi: “Ước gì con còn khoảng 25 tuổi để được vào Luật viện Huệ Nghiêm học với các Ôn, các thầy”. Năm nay là sư bà vẫn rất minh mẫn lắm. Lớn tuổi như vậy nhưng mà ngày nào cũng mở bài vở của các Ngài dạy tại Luật viện Huệ Nghiêm để ngồi nghe, mặc áo tràng rất trang nghiêm, rất thanh tịnh để ngồi nghe.
Sư bà nói tiếc quá, cái đời của mấy người tôi trước đây là tu nhưng mà ít học quá, rồi lớn lên thì công việc Giáo hội giao cho, từ thiện giao cho, nuôi trẻ em mồ côi, cho nên cứ lăn lộn giữa đời với những công việc như vậy, do đó không có cơ hội để học. Đùng cái là sau năm 75, lịch sử của đất nước chuyển qua một giai đoạn khác, bao nhiêu biến đổi thì lăn lộn với sự biến đổi ấy để tồn tại, để giữ chiếc áo, để giữ cái tâm xuất gia của mình cực kỳ khó khăn, quá khó khăn. Đến khi nhìn thì đời mình đã đi qua gần cả thế kỷ rồi. Bao nhiêu đồng đạo của mình đã nằm xuống giữa hình thức này hay hình thức khác, bao nhiêu bậc thầy của mình đã ra đi. Cho nên một số sư bà gần trăm tuổi có, gần 90 tuổi có, gần 80 tuổi có, trên 70 tuổi có thường gặp tôi và thường chia sẻ rất mong học được Phật pháp; và không chỉ quý sư bà, quý ni trưởng, ni sư, các sư cô nhỏ cũng vậy.
Nhiều vị trẻ đã thưa với tôi: “Bạch Thầy, đúng Đức Phật dạy Phật pháp nan văn“. Phật pháp khó nghe, khó nghe lắm. Gặp được một bậc thầy mà nhắc nhở cho mình chuyện tu hành, khuyến tấn sự tu hành và chỉ cho con đường tu hành, rồi nói lên những cái kinh nghiệm tu hành cho mình bằng tất cả trái tim, bằng tất cả sự thương quý, gặp được những bậc thầy như vậy khó lắm, rất khó trong đời. Nhiều vị đã thưa với tôi mà họ chảy nước mắt họ khóc, và quý thầy tăng trẻ cũng vậy và các vị Thượng tọa lớn tuổi cũng vậy; cho đến các vị Hòa thượng đã ra làm việc Giáo hội nhưng mà tối nào thấy thì giờ thư thả đều mở bài vở của các thầy, của các Ôn dạy tại Luật viện Huệ Nghiêm để lắng nghe để hiểu thêm.
Và Hòa thượng Huệ Trí là một vị làm việc thâm niên trong Giáo hội, Ngài mới qua đời cách đây không lâu. Khi Hòa thượng Huệ Trí còn tại thế, một lần gặp tôi, Hòa thượng đều nói: “Xin cảm ơn Hòa thượng Thái Hòa. Tuy tôi bận rộn công việc nhưng mà tối nào tôi cũng mở băng của Hòa thượng tại Luật viện Huệ Nghiêm để nghe. Và tôi thích nhất là Hòa thượng chia sẻ với tăng ni sinh: “Làm Chủ tịch Giáo hội là quan trọng, nhưng chưa quan trọng bằng làm chủ sống chết. Ai làm chủ được sống chết mới là điều quan trọng”. Hòa thượng Huệ Trí nói rằng: “Tôi thích câu này quá!”.
Sở dĩ tôi nhắc lại câu này cho đại chúng là cũng để nhớ Hòa thượng Huệ Trí là người bạn của tôi cùng thọ một giới đàn cùng ngày trước ở và sinh hoạt tại Phật học viện Báo Quốc Huế, và sau năm 75 thì học kế toán trưởng với tôi để lo kinh tế cho tăng ni bấy giờ tại Huế, và sau đó thì cũng cùng ở tại Phật học viện Quảng Hương Già Lam Sài Gòn với tôi đó. Tôi nhắc lại điều này để cho quý vị biết rằng làm việc Giáo hội là vì bản nguyện mà làm. Cho nên các Ngài của chúng ta làm bất cứ điều gì cũng tự nơi bản nguyện mà làm.
Mà làm thì trong việc làm ấy có người tán đồng, có người không tán đồng; có người yểm trợ, có người không yểm trợ. Cho nên đứng trước cái mâu thuẫn giữa yểm trợ và không yểm trợ, tán đồng và không tán đồng đó, nếu mình sống không có mục đích, không có lý tưởng, không vì sự hoằng pháp lợi sanh, mình bị dao động trước cái khen của người, mình cũng bị dao động trước cái chê của người đó. Dao động trước cái khen của người mình cũng không làm được việc gì cho Giáo hội, cho Phật pháp, cho tăng ni; bởi vì dao động trước cái khen của mọi người thì mình chỉ là trò chơi của thiên hạ thôi. Họ vui thì họ khen mà không vui thì không còn khen nữa. Và mình bị dao động bởi cái chê của mọi người thì mình cũng không làm được việc gì cho Giáo hội, cũng không làm được việc gì cho tăng ni Phật tử, cũng không đóng góp gì được cho xã hội.
Chắc chắn rằng làm việc có người khen thì có người chê. Thời nào cũng vậy, ở đâu cũng vậy mà công việc làm gì cũng vậy. Mình ăn chay cũng có người khen, có người chê chứ không phải mình ăn chay là ai cũng khen cả đâu phải không? Mình tu cũng có người khen có người chê chứ không phải mình tu ai cũng khen cả đâu. Mình ngồi thiền, niệm Phật, lạy Phật, bố thí cúng dường cũng có người khen có người chê. Nhưng mà mình đi tu không phải vì cái khen chê đó; mình tu học không phải vì cái khen hay cái chê của người đời. Mình làm mọi Phật sự không phải vì cái khen cái chê của người đời mà mình thấy cái gì đúng thì làm, làm hết lòng bằng tất cả tấm lòng, không bị chướng ngại bởi khen hay chê.
Thì giáo lý Hoa Nghiêm là giáo lý mà giúp mình thực tập để có bốn sự không chướng ngại: Thứ nhất là Sự vô ngại; thứ hai là Lý vô ngại; thứ ba là Lý sự vô ngại và thứ tư là Sự sự vô ngại. Sự vô ngại nghĩa là mình hành sự, thi hành mọi công việc hiện hữu bất cứ ở đâu không hề chướng ngại, không hề bị đối ngại. Giáo lý Hoa Nghiêm cho mình cái pháp học, pháp hành này để mình sống giữa đời, sống với mọi thành phần xã hội mà không bị đối ngại từ nơi hành sự của mình, tự nơi cái công việc của mình.
Lý vô ngại nghĩa là chân lý được diễn tả ở kinh Hoa Nghiêm, chân lý ấy không đối ngại giữa Phật với Phật, không đối ngại giữa Phật cõi này với Phật cõi kia, không bị đối ngại bởi Phật quá khứ hay Phật hiện tại hay Phật vị lai. Chân lý được diễn tả ở kinh Hoa Nghiêm không hề đối ngại giữa hàng Bồ Tát ở cõi này cõi kia đang tu tập pháp môn này pháp môn kia. Chân lý trong kinh Hoa Nghiêm phô diễn không đối ngại đối với hàng Thanh văn, hàng Duyên giác, đối với thế giới người trời.
Và Lý sự vô ngại: Lý mà kinh Hoa Nghiêm diễn tả, sự mà kinh Hoa Nghiêm hành động, lý sự ấy có mặt cho nhau, có mặt trong nhau. Ở nơi Sự là biểu hiện Lý tính; cho nên nhìn trong hành sự mà thấy lý tính của việc làm, thấy cái chân lý của việc làm, thấy cái đúng, cái rõ ràng, cái chỗ về, cái nghĩa rốt ráo của việc làm; và ở trong Lý bao gồm tất cả Sự. Vì vậy mà lý sự vô ngại: cái việc làm của nhân loại không ảnh hưởng đến việc làm của chư thiên và ngược lại, mà tương tác hỗ trợ nhau trên mặt thiện pháp, an lạc. Việc làm thiện sự của thế giới người trời không trở ngại các thiện sự của hàng Thanh văn, Duyên giác và ngược lại. Bồ Tát vô số không thể nghĩ bàn như vậy mà hạnh sự các Ngài không hề đối ngại nhau và không hề đối ngại với hàng Thanh văn, Duyên giác hay thế giới người trời.
Và Sự sự vô ngại pháp giới tức là sự hiện hữu này không hề đối ngại với sự hiện hữu kia; hiện hữu là để hỗ trợ nhau, tương tác với nhau, giúp nhau thành tựu những gì tốt đẹp nhất tự nơi cái tâm thể Đại bi. Cho nên giới học Đại thừa nói chung và giới học Hoa Nghiêm nói riêng đều thiết lập trên nền tảng gọi là lấy Đại bi làm thể. Ngay cả giới học Thanh văn cũng thiết lập trên giới thể Đại bi: đó là hiếu kính đối với cha mẹ, hiếu kính đối với sư trưởng, hiếu kính đối với chúng tăng, hiếu kính đối với Tam bảo và thương yêu tất cả chúng sinh.
Hiếu kính với cha mẹ mình vì mình thấy công lao của cha mẹ mình rất lớn; hiếu kính vì mình thấy rất rõ là cha mẹ mình nhiều đời nhiều kiếp trôi lăn trong sinh tử. Đời này là liên hệ với mình làm cha làm mẹ nhưng đời trước nữa thì liên hệ với mình trong cái ý nghĩa chúng sinh. Cho nên đã vì hiếu kính đối với cha mẹ thì không phải chỉ một đời mà chúng ta phải hiếu kính nhiều đời. Bởi vì chúng ta không phải chỉ sinh ra một lần mà sinh ra không biết bao nhiêu lần. Sinh ra thì phải có cha mẹ, có cái sinh và cái năng sinh tương tác với nhau; chủ thể năng sinh là cha mẹ, đối tượng bị sinh là con cái. Cho nên đã có sinh thì có cha mẹ dưới hình thức này hay hình thức khác. Do đó mình phải hiếu kính cha mẹ bằng cách thương tất cả chúng sinh, phục vụ và thương tất cả chúng sinh bằng cái giới thể Đại bi. Đó là giới thể chủ yếu của Phật giáo nói chung và Hoa Nghiêm nói riêng.
Quý thầy, quý cô giữ giới không sát sanh là vì tâm thể Đại bi mà giữ, vì tâm thể Đại bi mà thọ trì. Vì mình thương người thương vật mà giữ giới không sát sanh. Con vật bị mình giết đó nó là nạn nhân ở nơi lòng sân hận, ở nơi cái tâm tham của chúng ta. Nạn nhân đó có thể từng là cha ta, mẹ ta, ông bà hay những người thân yêu của ta. Nhưng vì luân chuyển trong sinh tử luân hồi, thay hình đổi dạng mà mình không có tuệ giác lớn, không có tầm nhìn lớn nên không nhận ra đó là người thân. Cho nên chúng ta giữ giới không sát sanh vì tâm thể Đại bi.
Mở đầu của giới Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di là không sát sanh rồi, chứ chưa nói đến Sa-di, Thức-xoa hay Bồ-tát giới. Còn Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni mở đầu giới là gì? Đó là đời sống phạm hạnh, là tịnh hạnh. Tại sao ta phải tịnh hạnh? Cái luận giải sâu sắc trọn vẹn nhất, lý sự viên dung nhất, sự vô ngại nhất là ta sống tịnh hạnh bởi vì ta nhìn đối tượng mà chúng ta quan hệ giới tính đó đã từng là cha ta, mẹ ta, ông bà tổ tiên trong dòng dõi huyết thống của chúng ta. Nhưng vì trôi lăn trong sinh tử luân hồi nhiều đời mà mình không biết đó thôi.
Vì nhận ra được cái lý này mà mình không hành sự đối với người khác giới tính để thỏa mãn những nhu cầu đê hèn, bần tiện ở nơi tâm thức chúng ta. Tâm thức chúng ta có những hạt giống đê hèn thúc đẩy chúng ta hành sự không lành mạnh, không trong sáng, không thuần tịnh, không cao khiết. Cho nên ta giữ giới tịnh hạnh, ta sống nếp sống phạm hạnh trước mặt mọi người cũng như sau lưng mọi người, bất cứ không gian và thời gian nào. Bởi vì tình thương của chúng ta trong sáng thuần tịnh, ta không nỡ làm ô uế những gì chung quanh, không nỡ làm ô uế tình thương người khác dành cho ta.
Cho nên chúng ta giữ giới vì tâm thể Đại bi. Từ nơi tâm thể Đại bi mà các thầy, các cô hành trì giới luật thì nhẹ nhàng thanh thoát. Trong đời sống hàng ngày, chúng ta phải nuôi lớn giới thể Đại bi của chúng ta; không thọ Đại thừa Bồ-tát giới, quý thầy quý cô khó mà có nếp sống thanh tịnh của một Cận sự nam, Cận sự nữ, Sa-di, Thức-xoa hay Tỳ-kheo. Sự thanh tịnh ấy phải có gốc rễ từ nơi tâm thể Đại bi. Làm bất cứ cái gì cũng từ nơi cái tâm Đại bi mà làm; vắng bóng tâm Đại bi mọi hành động và ứng xử của chúng ta rất dễ phạm giới, tránh xa cỡ nào cũng dễ phạm giới, và nhất là thời đại hiện nay.
Thời đại hiện nay mấy thầy không dùng điện thoại di động thì mình giống ai? Đi đâu người ta cũng hỏi số điện thoại để liên lạc, không có thì không làm được thủ tục. Cho nên phải có số điện thoại chính chủ, địa chỉ liên lạc; nếu không mình có tồn tại được trong các pháp nhân duyên, trong pháp luật của mọi quốc gia được không? Nhưng mà xài điện thoại thì giới luật cấm… đi dép còn không được nữa mà. Ngủ dưới gốc cây ba đêm không được ngủ bốn đêm. Dễ gì mà ngủ dưới gốc cây? Ngủ đêm thứ nhất thôi chứ đêm thứ hai là Kiểm lâm tới hỏi rồi: “Ông làm gì ở đây?”, hoặc Lâm thần, Thổ địa cũng tới hỏi rồi.
Cho nên nếu chúng ta không có giới thể Đại bi hộ trì giúp chúng ta vượt qua những cái khó khăn, mà giới luật Thanh văn quá nghiêm khắc đối với chúng ta thì làm sao chúng ta thọ trì được Thanh văn giới một cách thanh tịnh để mà chứng A-la-hán? Không có A-la-hán nào có thể tồn tại cá biệt nếu không có Đại thừa Bồ-tát giới bảo hộ, bảo chứng. Một Tỳ-kheo có thể chặt cây rừng rồi buôn bán cây rừng được không? Phạm giới ngay. Như vậy thì làm gì có Thánh ở nơi cái chỗ chặt phá cây rừng? Không có Đại thừa Bồ-tát giới thì các thầy ngắt một cành cây đã phạm giới rồi chứ đừng nói chặt cây bán đấu giá.
Chúng ta tồn tại là ở nơi giới thể Đại bi và Phật giáo còn hôm nay cũng là ở nơi giới thể Đại bi. Giới thể Đại bi bảo chứng cho tất cả các giới thể Thanh văn, Duyên giác và tạo nên phước báo của thế giới người và trời. Không có Đại thừa Bồ-tát giới chúng ta không bao giờ có một trường học hay học viện. Cho nên quý vị phải tu học, phải nhìn giới luật dưới nhiều góc độ sâu cạn khác nhau để nuôi dưỡng được hạnh tu. Mọi việc tạo hình tượng Phật, nuôi dạy đồ chúng đều phải từ nơi cái tâm Đại bi mà hành sự; nếu không thì không đưa mình tới đời sống cao thượng, giải thoát được.
Các thầy, các cô cố gắng học để có pháp học rõ ràng, tu để có pháp tu rõ ràng, nỗ lực đoạn trừ phiền não và sở tri chướng để có pháp chứng rõ ràng. Khi đã có pháp chứng thì mình sẽ có pháp thành tựu đời tu của mình từng phần, rồi mới đi tới toàn phần; chứ không phải mới đi tu mà ngày mai mong thành Phật liền đâu. Ít ra mình tu để làm một con người dễ thương trong thế giới con người: người con dễ thương của cha mẹ, người học trò dễ thương của sư trưởng, người Cận sự nam nữ dễ thương đáng tin cậy. Làm Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni thì thanh tịnh, xứng đáng đóng góp vào tăng thể và tuyên dương chánh pháp, chuyển tải thông điệp giác ngộ đến chúng sinh. Miễn làm thế nào chúng sanh tiếp nhận được mà nguyện bỏ ác làm lành, giữ tâm ý thanh tịnh và sống an lạc.
Sống ở gia đình hay tự viện, thiền viện, luật viện thì trở thành con người dễ thương. Ra làm việc Giáo hội thì trở thành những nhà lãnh đạo tiêu biểu, mẫu mực, mô phạm. Nếu là cư sĩ thì là những cư sĩ mẫu mực cho đời. Đó là những cái căn bản tu tập để biến mình trở thành dễ thương trong mọi hoàn cảnh. Mình sống với cha mẹ, thầy tổ chưa dễ thương thì lấy gì mà dễ thương với xã hội hay sanh thiên? Thiên đàng và cõi Phật cũng được thiết lập từ nơi cái dễ thương của con người.
Cho nên mình cứ nhìn lại mình đã dễ thương chưa? Đi đứng nằm ngồi, ăn ngủ mặc đã dễ thương chưa? Quán chiếu đi: dắt cái ghế, phơi áo quần đã biết cách và dễ thương chưa? Phơi quần áo, xếp quần áo mà chưa dễ thương mà nói rằng mình sẽ là người dễ thương của thế giới người trời thì nghe rợn hồn. Quý thầy, quý cô phải luôn luôn nhớ đến luật nghi, nhớ đến 24 thiên oai nghi, nhớ đến 250 giới của mình. Giới luật biến mình từ một con người dễ ghét trở thành con người dễ thương, từ vô dụng trở thành hữu dụng, từ phàm phu trở thành bậc Thánh.
Không phải chỉ hành trì giới luật là tụng thuộc lòng đâu; có nhiều vị tụng thuộc lòng mà không có giới luật gì cả. Tụng thuộc lòng và hành trì giới luật nó còn cách nhau xa lắm. Mình có tụng giỏi cũng không bằng robot tụng giới luật; cài chương trình vào là nó tụng ro ro, nhưng nó cũng chỉ là robot thôi. Tuy mình tụng không hay nhưng tụng bằng tất cả tấm lòng, niềm tin thành kính, tôn quý Tam bảo và mở lòng từ bi thì có một sự chuyển hóa rất lớn đối với tâm thức. Nó thay đổi tâm thức từ ô nhiễm trở thành thanh tịnh, từ thấp kém trở thành cao thượng, từ phàm mở ra con đường Thánh để đi tới phương trời giải thoát giác ngộ.
Chúng ta học Giới học Hoa Nghiêm là để trang nghiêm bản thân ở trong giới luật và góp phần trang nghiêm đối với gia đình, xã hội. Tôi rất hoan hỉ khi thấy cả ngàn tăng ni nhưng chỉ có chưa tới 100 vị chịu khép mình ở trong Luật viện Huệ Nghiêm để học giới luật, để hiểu thông tác trì tác pháp, chỉ trì chỉ pháp và các pháp Yết-ma để hành sự đúng đắn, không phải theo tà pháp. Kết một giới trường thì phải tác pháp Yết-ma nào, đơn bạch hay bạch nhị, bạch tứ phải biết rõ ràng.
Xuất chúng thì phải trình như thế nào và Yết-ma nào để xin được xuất chúng? Phải biết cương vị của Hòa thượng Đường đầu; và trong một giới đàn không phải Hòa thượng Đường đầu là lớn nhất mà là Thất vị Tôn chứng đại diện cho Tăng. Bảy vị Tôn chứng biểu quyết hòa hợp thanh tịnh thì giới thể của người cầu thọ mới thành tựu. Không học không biết thì làm sai; mà đã làm sai rồi thì phạm vào tác phạm, làm giới thể của người cầu thọ không thành tựu. Giới thể không thành tựu thì làm sao trở thành Tỳ-kheo chính thức của Tăng? Không phải thành viên chính thức thì làm sao mà bố-tát, ứng cư, tự tứ? Làm gì có giới lạp, hạ lạp để gọi là Đại đức, Thượng tọa, Hòa thượng?
Cho nên tu không thể thiếu học, học cái gì thích ứng với sự tu hành để nâng cao phẩm chất tu hành của chúng ta lên. Người đời cần chúng ta là cần Phật pháp chứ không phải cần cái của người đời. Tổ chúng ta đã nói: “Vạn trung vô nhất” (Trong vạn người khó tìm được một người tu đúng nghĩa). Lời dạy ấy là trải dài của một sự kinh nghiệm bao đời, cho nên đừng có thấy đông mà mừng nghe. Ngài Hòa thượng Thiện Siêu từng dạy công an rằng: tu khó lắm, có hộ khẩu chưa chắc họ đã ở chùa, đã tu được đâu.
Lời của Thầy Tổ: “Vạn trung vô nhất” không dễ đâu, cho nên mình cố gắng phấn đấu để là “một” đúng nghĩa mà Thầy Tổ mong đợi, xứng đáng với niềm tin của Phật tử và xã hội. Cái “một” như vậy không hề đối ngại bởi bất cứ cái gì, đó là “một” mà vô ngại. Chúc đại chúng thực tập thành công. Chúng ta nguyện đời đời kiếp kiếp làm bà con quyến thuộc trong ánh đạo từ bi, giúp nhau mở ra sự ràng buộc chứ không phải tạo ra oan khiên nghiệt ngã. Có oan nào thì xin giải tỏa, có ân nào thì xin hiến tặng cho nhau; có như thế thì sự có mặt của chúng ta mới thật có ý nghĩa.
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
BBT. CHÙA TỰ TÂM
Chuatutam.net







![[TRUYỀN HÌNH TRỰC TIẾP] Trọng thể khai mạc Đại lễ Vesak Liên Hiệp Quốc 2025 tại TP.HCM](https://chuatutam.net/wp-content/uploads/2025/05/vesak-360x180.jpg)























Thảo luận về post