Bài viết từ trước tết, sau chuyến đi, nhưng không đăng vì quá bận và không hợp thời điểm. Bài khá dài, chỉ phù hợp với người yêu thích văn học. Bạn nào thấy dài và không thích thì cứ lướt qua.
“TRỜI BẾN PHONG KIỀU SƯƠNG THẤP THOÁNG”

Xưa đọc “Đêm thu nghe quạ kêu” của Quách Tấn, tôi chẳng biết nhà thơ của “Xứ Trầm Hương” đã lấy cảm xúc từ đâu để viết những câu thơ man mác hồn Đường đến vậy:
“Từ Ô y hạng rủ rê sang
Bóng lẫn đêm thâu tiếng rộn ràng
Trời bến Phong Kiều sương thấp thoáng
Thu sông Xích Bích nguyệt mơ màng
Bồn chồn thương kẻ nương song bạc
Lạnh lẽo sầu ai rụng giếng vàng
Tiếng gọi lưng mây đồng vọng mãi
Tình hoang mang gửi tứ hoang mang”
Từ Ô y hạng đến Bến Phong Kiều rồi sông Xích Bích, tất cả chỉ là những điển cố trong thi ca. Tôi chưa bao giờ dám mơ đi đến những nơi ấy, chỉ du lịch bằng thi ca thôi. Nhưng mới hôm qua, từ Thượng Hải về Tô Châu, tôi đã choáng ngợp bởi “Trời bến Phong Kiều”. Những băn khoăn xao xuyến ngày xưa giờ trở thành hiện thực.

1. HÀN SAN TỰ


Chắc chắn rồi, đến Tô Châu, điểm đầu tiên tôi tìm đến phải là ngôi chùa đã ăn sâu trong tiềm thức thuở mới vào chùa khi đọc ngữ lục về Hàn San – Thập Đắc – Phong Can. So với nhân vật Tế Điên ở chùa Linh Ẩn, Hàng Châu, thì nhân vật Hàn San ở Tô Châu Thiền vị hơn nhiều.

Tương truyền, chùa nằm ở phía tây trấn Phong Kiều, Tô Châu, được xây vào năm Thiên Giám (502-519) đời Lương Vũ Đế, với tên gọi Diệu Lợi Tự, đến năm Trinh Quán (627-649) đời Đường Thái Tông được gọi là Hàn San tự để tưởng nhớ nhà sư Hàn San cuồng sĩ đã tu ở đây.

Đáp chuyến tàu cao tốc từ ga Hồng Kiều, Thượng Hải đến ga Tô Châu, chúng tôi đón taxi đi thẳng tới Hàn San Tự. Ngang qua Bình Giang lộ, du khách đông như trẫy hội. Xe gần đến nơi, một chiếc cầu hiện ra, trên tường bên có ba chữ đại tự Giang Phong Viên, lòng bỗng dưng dâng trào cảm xúc. Xe dừng lại trước cổng chùa, chúng tôi theo bảng chỉ dẫn đi vào, trước tiên là đến Phạm Chung Tháp, một ngôi tháp lớn với rất nhiều bức hoành phi do chính những tao nhân mặc khách thảo bút, mỗi tầng là 8 bức hoành phi đại tự. Bên trong tháp là một quả Đại hồng chung khổng lồ, đường kính phải đến 5m. Trên thân chuông khắc tạc toàn bộ lịch sử của chùa. Tất nhiên không thể không nói đến Thiền sư Hàn San và bài thơ Phong Kiều Dạ Bạc lừng danh của Trương Kế. Hai câu đối trên trụ biểu giữa tháp đã nói lên hồn phách và ảnh hưởng của tiếng chuông chùa Hàn San trong nền văn hoá cổ điển đất Tô Châu:
– 客 至 禪 門 百 八 杵 鐘 聲 餘 音 在 耳
– 烏 啼 子 夜 一 千 年 詩 韻 明 月 當 頭
(Khách chí Thiền môn, bách bát xử chung thanh dư âm tại nhĩ
Ô đề tử dạ, nhất thiên niên thi vận minh nguyệt đương đầu.)
Tạm dịch:
– Khách đến cửa Thiền, trăm lẻ tám nhịp chuông, tiếng còn vang tâm khảm
– Quạ kêu đêm vắng, ngàn năm sau thi vận, trăng vẫn sáng trên đầu.
Đọc 2 câu đối trên thôi, cảm giác chuyến đi Trung Quốc của mình đã có lãi rồi. Vòng ra ngõ sau tháp, một bia đá khổng lồ hiện ra dưới ánh nắng chiều vàng vọt và cái lạnh -6 độ của vùng Giang Nam. Trên bia là bức thảo thư bài thơ Phong Kiều Dạ Bạc của Trương Kế làm choáng ngợp hồn tôi. Mặt sau của bia là bài Bát Nhã Tâm Kinh do chính thủ bút của vua Càn Long ngự đề. Dù trời rất lạnh, tôi vẫn cởi hết áo ấm ra, mặc chiếc áo dài nâu của tu sĩ Việt Nam để ghi lại bức ảnh quan trọng trong một ngày được đi về cõi miền tương ứng.

Bây giờ chúng tôi mới bắt đầu đi vào Hàn San Tự. Vòng qua ngõ sau, một chiếc cầu đá hiện ra trên nhánh sông nhỏ: Giang Thôn Kiều. Sao lại Giang Thôn mà không phải Giang Phong? Chút hụt hẫng như có chút gì nhầm lẫn, ghi vội vài bức ảnh trên cầu rồi đi vào chùa. Trên vách hiện ra ba chữ Hàn San Tự thật đẹp mà ai nấy đều đến đứng chụp hình như ghi dấu quan trọng khi đến đây. Ba chữ thư pháp đại tự này, theo lạc khoản là do thư pháp gia Đào Hát Tuyên, hiệu Đông Hồ đề. Chúng tôi đi vào Chánh điện, qua một khoảng sân rộng, khách chiêm bái tấp nập, phía sau chánh điện thờ bức tranh Thiền sư Hàn San và Thập Đắc kèm thi kệ của Hàn San mà chúng tôi đã được xem trong Thiền Luận từ nhỏ. Không gì thích thú hơn đối với người thích tầm chương trích cú như tôi. Mặc dầu chữ nhỏ trên cao, tôi cũng gắng đứng đọc hết bài thi kệ:

Hàn San Thập Đắc Nhị Thánh giáng thử thi viết:
“Ha ha ha!
Ngã nhược hoan nhan thiểu phiền não
Thế gian phiền não biến hoan nhan
Vị nhân phiền não chung kiêm tế
Đại đạo hoàn sanh hoan hỷ gian
Quốc năng hoan hỷ quân thần hợp
Hoan hỷ đình trung phụ tử liên
Thủ túc đa hoan kinh thọ mậu
Phu thê năng hỷ cầm sắc hiền
Chủ tân hà tại kham vô hỷ
Thượng hạ tình hoan hề dũ nghiêm
Ha ha ha!”
Ngay sau bài thơ có dòng chú thích:
“Cải Hàn San Thập Đắc vi Phổ Hiền Văn Thù hoá thân, toàn xưng Hoà thánh Hợp thánh vi Hàn San Thập Đắc biến tướng dã. Học chi tự tăng La Sính thư ký”
Nội dung bài thơ là tiếng cười ngất ngưỡng “ha ha ha” của nhị vị Thánh nhân Hàn San Thập Đắc. Đại ý là nếu ta vui vẻ thì ít phiền não. Bao nhiêu phiền não của thế gian đều biến thành nét mặt hoan hỷ. Phiền não của con người hết thảy đều được hoá giải. Đạo lớn không gì khác hơn là làm cho mọi sự đều trở nên hoan hỷ. Quốc gia mà hoan hỷ thì quân thần hoà hợp. Trong nhà mà hoan hỷ thì cha con được kết nối nhau. Tay chân (anh em) mà hoan hỷ thì cây lớn tươi tốt. Vợ chồng mà hoan hỷ thì duyên cầm sắc trở nên hiền lành. Nếu không có sự hoan hỷ thì làm gì có sự dung thông giữa chủ và khách. Tình cảm của kẻ trên người dưới mà hoan hỷ thì càng ngày càng thêm thắm thiết”.

Phần chú thích đại ý nói Hàn San và Thập Đắc là hoá thân của nhị vị Bồ-tát Văn Thù và Phổ Hiền. Đây là bức biến tướng (tranh vẽ) hai vị Hoà Thánh và Hợp Thánh do Học tăng ở trong chùa là La Sính thư ký.
Rất nhiều giai thoại thú vị về hai vị Thiền sư Hàn San, Thập Đắc trong các bộ ngữ lục Thiền, ở đây tôi không muốn trích dẫn nhiều. Chỉ muốn nói đã đọc nhiều ngữ lục, nay được đến nơi tương truyền là hoá thân của Văn Thù Phổ Hiền, há chẳng thích sao!

Bước tiếp qua một khoảng sân rộng nữa là đến một ngôi đại điện thờ hai pho tượng Hàn San Thập Đắc bằng gỗ rất đẹp. Trước điện có bức liễn rất hay và vô cùng ý vị:
– 近 郭 古 招 提 毗 連 滸 墅 名 區 漁 火 秋 深 含 月 影
– 傍 山 新 結 構 依 舊 風 江 野 渡 客 船 夜 半 聽 鐘
– (Cận quách cổ chiêu đề, tỳ liên hử thự danh khu, ngư hoả thu thâm hàm nguyệt ảnh.
– Bàng sơn tân kết cấu, y cựu phong giang dã độ, khách thuyền dạ bán thính chung thanh).
Ôi! Tôi phải dịch câu đối này như thế nào đây? Ý tưởng cực kỳ phong phú, quan trọng là phải giữ nguyên hồn cốt của những chữ “tuyệt bút” trong Phong Kiều Dạ Bạc. Người Tàu ghê gớm thật! Một bài thơ 24 chữ của Trương Kế hơn một ngàn rưỡi năm trước mà làm tốn không biết bao nhiêu giấy mực của các nhà khảo cứu đời sau. Riêng tại Tô Châu, Cô Tô thành ngoại, từng ngọn núi, bến sông, đường cây, cầu đá, và cả không khí phố phường cũng bàng bạc phong vị của bài thơ có từ đời Đường. Có cảm giác người dân Tô Châu đã mượn bài thơ này để giới thiệu nền văn hoá cổ độ của mình, mà kinh tế, du lịch và đời sống của người dân cũng nhờ bài thơ này mà phát triển.
Tôi tạm dịch:
– Chùa cổ sát bên thành, nổi tiếng bến sông góc phố, lửa chài cuối thu soi bóng nguyệt
– Thiền môn gần vách núi, ngàn xưa cầu phong ghé bến, khách thuyền đêm vắng vọng hồi chuông.
Dịch để mà dịch, làm sao nói hết được cái hay, cái dụng tài tình khi dùng những chữ trong bài thơ cổ đưa vào câu đối. Chỉ có thể đứng tại nơi đây, đọc chính câu đối bằng Hán tự mới cảm hết cái thần của câu đối tuyệt luân.
Bước vào bên trong đại điện thờ hai vị Thần tăng, hai cặp đối bên trong càng làm tôi choáng ngợp:
– 千 餘 年 佛 土 莊 嚴 姑 蘇 城 外 寒 山 寺
– 百 八 杵 人 心 警 悟 閻 浮 夜 半 海 潮 音
(Thiên dư niên Phật độ trang nghiêm, Cô Tô thành ngoại Hàn San tự.
Bách bát xử nhân tâm kinh ngộ, Diêm-phù dạ bán Hải triều âm.)
Tạm dịch:
– Hơn ngàn năm cõi Phật trang nghiêm, chùa Hàn San ngoài thành Tô cổ
– Trăm lẻ tám hồi chuông thức tỉnh, tiếng Hải triều đêm vắng Diêm phù.
Câu đối trên sử dụng nguyên câu thơ của Trương Kế. Câu sau sử dụng hai chữ “Dạ bán” của câu thơ, cài thêm tiếng hải triều vang vọng cõi Nam Diêm-phù-đề bát ngát. Chao ơi! Có tiếng chuông nào vang vọng suốt cõi Đường thi và lịch triều thi sử mà ngàn năm sau lữ khách đến nơi còn nghe vang vọng muôn trùng!
Cặp đối giữa điện cũng vô cùng đặc biệt:
– 待 詔 殘 碑 重 新 廟 貌 留 詩 卷
– 蒲 牢 夜 吼 依 舊 鐘 聲 到 客 船
– Đãi chiếu tàn bi, trùng tân miếu mạo lưu thi quyển
– Bồ lao dạ hống, y cựu chung thinh đáo khách thuyền
Tạm dịch:
– Chiếu cũ bia mòn, xây dựng chùa chiền lưu thơ cổ
– Bồ lao đêm hống, nhớ thuở chuông lan đến khách thuyền.
“Đãi chiếu tàn bi”, chữ này nghe hơi lạ! Đãi chiếu chỉ cho những tao nhân mặc khách, kẻ sĩ, bậc hiền tài được vua ban chiếu chỉ, ghi khắc trên bia. Tàn bi, bia đá cũng mòn, nếu không lưu giữ thì sẽ phai nhạt theo thời gian, vì thế phải xây dựng lại điện đường miếu mạo để lưu giữ thơ văn thư tịch. Thay vì nói đến tiếng chuông, bên ta hay gọi tiếng chày kình (chày dộng chuông khắc hình con cá kình) thì ở đây viết “Bồ lao dạ hống” (tiếng kêu của chim bồ lao). Trên quai Đại hồng chung ở các chùa thường đúc hình chim Bồ lao, một giống chim ở biển có tiếng kêu rất to. Bồ lao sợ nhất là cá kình. Khi tiếng chày kình đóng vào thân chuông, chim bồ lao gầm thét, hô vang, ý nói đem tiếng chuông vang vọng khắp cả biển trời. Phần sau trong câu đối là “y cựu chung thanh đáo khách thuyền”. “Y cựu” là năm xưa, năm cũ, còn 7 chữ sau là của Phong Kiều Dạ Bạc rồi!
Mấy câu đối trên chưa phải là quá hay. Cái hay là chùa Hàn San đã khéo léo sử dụng những câu chữ của Phong Kiều Dạ Bạc vào hoành phi đối liễn, khiến khách du cứ ngỡ mình đang lạc vào cảnh giới phiêu bồng bàng bạc của thi ca.
Sau khi dạo quanh, đọc rất nhiều những trích đoạn các ngữ lục trong Truyền Đăng Lục, Bích Nham Lục treo trên tường các dãy điện, đọc những bức thư pháp rất đẹp trên các hành lang, chúng tôi cảm nhận mặc dầu Phật giáo Trung Quốc đã không còn như xưa, nhưng văn hoá Thiền tông vẫn còn sâu đậm trong giới học thuật và trong sinh hoạt nơi các tự viện. Có một điều muốn nói thêm, là ngay bên hông chùa Hàn San, trong khuôn viên đậm chất Thiền môn này, có một nhà hàng chay với nhiều món phong phú và ngon không tưởng. Các nhân viên phục vụ ở đây, từ lễ tân đến đầu bếp đều rất chi nhẹ nhàng, chu đáo và lịch thiệp, đúng chất một nhà hàng chay trong chùa, khách du có đến xin đừng bỏ qua.
2/ PHONG KIỀU DẠ BẠC

Bây giờ mới bàn đến bài thơ có nhiều nghi án từ xưa đến nay. Trong Đường thi có hai thi nhân nổi tiếng đêm ghé thuyền bến sông mà cảm khái. Đó là Phong Kiều Dạ Bạc của Trương Kế và Tần Hoài Dạ Bạc (Bạc Tần Hoài) của Đỗ Mục. Trong bối cảnh thành Trường An chìm trong cơn tao loạn thì nhà thơ Trương Kế, một đại quan tiến sĩ Ngự Sử đài, chẳng kịp theo đoàn hộ giá vương tôn lánh nạn mà đành lưu lạc xuống tận miền Giang Nam trên chiếc thuyền phiêu bạt. Một đêm ghé bến Phong Kiều, động mối u hoài chất chứa, gợi cảm cùng ngoại cảnh thê lương, bức xúc viết nên bài thơ tuyệt diệu, vượt qua cả không gian và thời gian, lưu truyền hậu thế. Trong khi Đỗ Mục, một thi sĩ đời Hậu Đường (thế kỷ 9), nhân một đêm ghé bến Tần Hoài (một phụ lưu ở hữu ngạn sông Dương Tử ở Nam Kinh), cạnh một quán rượu vào một đêm có trăng rọi xuống bờ cát, có khói sương phủ trùm làn nước lạnh mùa đông. Thi sỹ nhìn thấy gần bờ sông có một quán rượu và nghe tiếng hát bài “Hậu Đình Hoa”. Thi sỹ trách người “Thương nữ” đã không biết đến cái nhục mất nước mà còn ở đấy ca hát khúc “Hậu Đình Hoa”:
“Yên lung hàn thuỷ nguyệt lung sa,
Dạ bạc Tần Hoài cận tửu gia.
Thương nữ bất tri vong quốc hận,
Cách giang do xướng “Hậu đình hoa”.
Tôi đã từng vô cùng cảm kích khi đọc bài thơ này và viết bài thơ chữ Hán “Độc Bạc Tần Hoài cảm hận” để tỏ niềm đồng điệu với thi nhân hơn ngàn năm trước. Nhưng đó không phải nội dung của bài viết này. Bài này xin lạm bàn đến Phong Kiều Dạ Bạc.

Dường như ai yêu thích thi ca đều thuộc bản dịch Phong Kiều Dạ Bạc của Tản Đà:
“Trăng tà, tiếng quạ kêu sương
Lửa chài, cây bến còn vương giấc hồ
Thuyền ai đậu bến Cô Tô
Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San”.
Có quá nhiều nghi vấn về bài thơ này. Thứ nhất, có người cho rằng “Ô Đề” là tên thôn chứ không phải là quạ kêu.
Thứ Hai, Sầu Miên là tên núi chứ không phải “giấc sầu cô miên”.
Thứ ba, có người đã từng đến Hàn San Tự và nói ở đó làm gì có cây phong bên bờ sông, rồi cho rằng Phong Kiều là cầu Phong, cầu có tên Phong, và đối với chiếc cầu gần đó tên là cầu Kiều.
Thứ Tư, có người đem ngữ pháp chữ Hán ra để lý luận: Giang phong (cây phong bên bờ sông) và ngư hoả (ánh lửa thuyền chài) đối với người đang nằm sầu dưới thuyền. Hai làm sao lại đối với một?
Thứ năm, có người chất vấn chùa nào mà lại đánh chuông lúc nửa đêm? Và vì bài thơ của Trương Kế không có chấm phẩy gì cả, nên tuỳ theo cách đọc, cách ngắt câu mà nghĩa của câu thơ có thể khác.
Thật là chỉ có 28 chữ của bài thơ mà quá nhiều ý kiến khác nhau. Bây giờ chúng ta hãy khảo sát theo từng vấn đề được đề cập.
Thứ nhất là hai chữ Ô đề. Có người nói Ô đề là tên thôn, cũng có người nói Ô đề là tên núi. Vì quạ không bao giờ kêu vào ban đêm. Thực ra, chúng tôi đã tra khắp vẫn không thấy ở Tô Châu có thôn hay núi nào có tên Ô Đề. Mà hãy tưởng tượng Trương Kế viết: Trăng lặn trên thôn Ô Đề, giống như ta viết: Trăng lặn ở Nhà Bè, sương giăng ở Thủ Đức… thì còn gì thơ Trương Kế nữa.
Trong bài “Đến Hàn San tự để tìm hiểu bài thơ “Phong Kiều dạ bạc” của Trương Kế”, Nguyễn Quảng Tuân đã từng đề cập: “Cách hiểu này đã không được ai theo vì các con quạ vẫn có thể bất thường kêu về ban đêm. Nguyễn Quảng Tuân trích dẫn: Trong thơ văn Trung Quốc, Lý Bạch đã có bài thơ Ô dạ đề và Kim thị trong bài Tự thuật cũng đã có câu: “Không phòng dạ dạ văn đề ô” (Đêm đêm nghe thấy tiếng quạ kêu ngoài phòng vắng vẻ).
Trong văn thơ Việt Nam, Quách Tấn cũng có bài “Đêm thu nghe quạ kêu” và ông đã liên tưởng đến bến Phong Kiều trong bài thơ của Trương Kế.
Về vấn đề núi Sầu Miên, Nguyễn Quảng Tuân cũng đề cập: Trong thơ văn Trung Quốc, Lý Bạch đã có bài thơ Ô dạ đề và Kim thị trong bài Tự thuật cũng đã có câu: “Không phòng dạ dạ văn đề ô” (Đêm đêm nghe thấy tiếng quạ kêu ngoài phòng vắng vẻ).
Nghi vấn thứ hai mà nhiều người đã biết đến, đó là hai chữ “Ô đề” trong câu thơ đầu không phải là quạ kêu mà Ô Đề là tên một thôn làng gần đó. Nguyễn Quảng Tuân cũng đề cập: “Nguyên do vào đời Thanh có Mao Tiên Thư cho rằng: “Ở Tô Châu đối diện với chùa Hàn San có núi Sầu Miên nên câu ‘Giang phong ngư hoả đối sầu miên’ không thể hiểu là cây phong bên bờ sông và ánh đèn thuyền chài lấp lánh trước mặt khách (tác giả) đã làm cho khách xa nhà nhớ quê không sao ngủ được.”
Ý kiến này đã bị Trương Duy Minh, tác giả quyển Hàn San tự bác bỏ vì cho rằng bài thơ chỉ có bốn câu, ba câu đã tả cảnh rồi thì câu “Giang phong ngư hoả đối sầu miên” phải là câu tả tình mới đúng.
Điều này cũng hợp lý. Chính vì lẽ ấy mà tất cả các quyển Đường thi tam bách thủ chú giải và Thiên gia thi chú giải đều giảng “sầu miên” là “ưu sầu bất đắc thành miên”. Chỉ có một quyển Hội đồ Thiên gia thi của Chung Bá Kính chú giải đã giảng “sầu miên” là sơn danh như Mao Tiên Thư đã chủ trương.
Chúng tôi cho rằng cả hai nhà chú giải ấy đều chưa có dịp về tới chùa Hàn San cũng như mấy hoạ sĩ người Trung Quốc đã minh hoạ bài Phong Kiều dạ bạc mà cứ vẽ cầu Phong Kiều và chùa Hàn San ở bên ngọn núi.
Có thể vì tên chùa Hàn San có chữ “san” là núi nên các vị ấy mới nhầm lẫn như vậy”.

Về nghi vấn thứ ba, nói rằng bến sông mà Trương Kế ghé thuyền “làm gì có cây phong (cây bàng) mà là có 2 chiếc cầu đối nhau. Điều này cũng làm chúng tôi ngỡ ngàng, khi ngay phía sau chùa Hàn San có một chiếc cầu có tên Giang Thôn Kiều. Chúng tôi đã đứng trên chiếc cầu này nhìn qua hai bên chắng thấy có chiếc cầu nào song song cả. Vì chiếc cầu này nằm sát sau chùa nên nhiều người lầm tưởng đó là Phong Kiều. Thực ra Phong Kiều nằm ở một khúc quanh của sông. Nếu ở cổng trước của chùa đi bộ khoảng 200m, nơi có Giang Phong Viên mà chúng tôi đã đề cập từ đầu thì đó mới là Giang Phong Kiều. Theo sự chỉ dẫn của một vị Sư trong chùa Hàn San, chúng tôi đã đi đến chiếc cầu này chụp ảnh. Cầu này chẳng thấy đề tên, có thể chỉ là cầu mới, bằng đá. Chẳng biết có phải là chiếc cầu Trương Kế đề cập không. Vì thực ra bài thơ của Trương Kế chẳng hề đề cập hay mô tả chiếc cầu, mà chỉ mô tả cây phong bên sông (giang phong). Hơn một ngàn rưỡi năm đã trôi qua, hàng phong bên bờ sông đã chẳng còn chỉ là chuyện thường tình!
Vấn đề thứ tư, “Giang phong, ngư hoả đối sầu miên”. Có người cho rằng hai làm sao đối với một? Rồi gượng hiểu rằng “hai vật thể đối nhau kg phải là cây phong và bóng đèn mà là “ánh trăng treo trên thôn Ô Đề và ánh đèn của ngư phủ dưới cây cầu Phong đối nhau. Thực ra chẳng có gì đối nhau cả! Thi nhân nằm dưới thuyền nhìn (đối) hàng cây bên sông và ánh lửa thuyền chài mà miên man khó ngủ đấy thôi!
Vấn đề làm cho nhiều người thắc mắc nhất chính là câu ba và câu bốn của bài thơ. Đó là chùa nào lại đánh chuông vào ban đêm? Thật là vạch lá tìm sâu! Chính vì có người thắc mắc nên đẻ ra nhiều lý giải thú vị. Trong cuốn Đường Thi của Trần Trọng San có kể một giai thoại khá đặc biệt: “Một đêm trăng, sư cụ trụ trì chùa Hàn San, cảm hứng nghĩ ra hai câu thơ:
Sơ tam sơ tứ nguyệt mông lung
Bán tự ngân câu bán tự cung
Thao thức mãi trong phòng mà sư cụ không nghĩ ra hai câu tiếp. Tự nhiên có tiếng gõ cửa. Thì ra là chú tiểu cũng trằn trọc vì 2 câu thơ mình mới nghĩ ra:
Nhất phiến ngọc hồ phân lưỡng đoạn
Bán trầm thuỷ để bán phù không

Nhưng cũng không làm tiếp được và xin thầy giúp. Nghe xong, sư cụ mừng quá, quỳ xuống tạ Phật. Vì quả thật 2 câu thơ của chú tiểu ăn khớp với 2 câu của sư cụ, thành bài tứ tuyệt mà Trần Trọng San đã dịch như sau:
Mồng ba, mồng bốn, trăng mờ
Nửa dường móc bạc nửa như cung trời
Một bình ngọc trắng chia hai
Nửa chìm đáy nước nửa cài từng không
Làm xong bài thơ này lúc nửa đêm, sư cụ bảo chú tiểu đánh chuông tạ ơn Phật. Tình cờ đêm hôm đó trên thuyền, thi sĩ Trương Kế cũng không ngủ được vì không nghĩ được câu tiếp cho hai câu “Nguyệt lạc ô đề…” Tự nhiên chuông chùa Hàn San đổ đến, gợi hứng cho thi nhân hoàn tất bài Phong kiều dạ bạc “…Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền…”
Thắc mắc này không phải chỉ ở các học giả Việt Nam. Bên Trung Quốc từ xưa cũng đã từng phản biện. Trong bài viết của Nguyễn Quảng Tuân đã từng nêu: “Âu Dương Tu thì cho rằng: “Thi nhân tham cầu hảo cú nhi lý bất thông giả, diệc ngữ bệnh dã” (Nhà thơ vì muốn đặt câu cho hay nên lý không được thông, đó là một ngữ bệnh vậy).
Sô Nghiêu trong quyển Đường thi tam bách thủ độc bản thì cho rằng: “Hậu nhân dĩ vi dạ bán vô chung thanh tương cấu bệnh, vị miễn xuy mao cầu tì”. (Người đời sau lấy cớ nửa đêm không có tiếng chuông và cho là một ngữ bệnh, như thế thì chưa tránh khỏi cái thói bới lông tìm vết.)
Diệp Thiếu Uẩn trong Thạch lâm thi thoại lại cho rằng: “Cái công vị thường chí Ngộ trung(3), kim Ngô trung tự thực bán dạ đả chung.” (Vì ông không thường tới Ngô trung chứ hiện nay chùa ở đó vào lúc nửa đêm có đánh chuông thật.)
Cái thú vị ở bài thơ của Trương Kế là mặc khách không đến chùa, mà chuông chùa đã tìm đến với lữ khách. Người không tìm đạo, mà đạo đã lan toả đến đời. Tiếng chuông vì thế mà trở nên phong vị!
Các nhà thơ từ đời Tống về sau mỗi lần qua bến Phong Kiều cũng thường nhớ đến Trương Kế với “nguyệt lạc”, “ô đề” và “dạ bán chung thanh”:
Nhà thơ Lục Du đời Tống trong bài Túc Phong Kiều đã viết:
Thất niên bất đáo Phong Kiều tự
Khách chẩm y nhiên bán dạ chung.
(Bảy năm không tới thăm lại chùa Phong Kiều,
Nằm gối đầu ngủ lại ở đất khách nghe tiếng chuông chùa đánh lúc nửa đêm thấy vẫn y như cũ).
Nhà thơ Tôn Địch cũng đời Tống trong bài Phong Kiều đã viết:
Ô đề nguyệt lạc kiều biên tự,
Ỷ chẩm do văn bán dạ chung.
(Quạ kêu, trăng lặn, cầu ở bên chùa,
Nằm gối đầu ngủ còn nghe thấy tiếng chuông nửa đêm.)

Nhà thơ Cố Trọng Anh đời Nguyên trong bài Bạc Xương Môn đã viết:
Tây phong chỉ tại Hàn San tự,
Trường tống chung thanh giảo khách miên.
(Chỉ tại chùa Hàn San mà gió tây
đưa xa tiếng chuông tới quấy động giấc ngủ của khách.)
Nhà thơ Cao Khải đời Minh trong bài Phong Kiều đã viết:
Kỷ độ kinh qua ức Trương Kế,
Ô đề nguyệt lạc hựu chung thanh.
(Mấy lần qua Phong Kiều đều nhớ Trương Kế,
Quạ kêu, trăng lặn với tiếng chuông nửa đêm.)
Nhà thơ Văn Trưng Minh đời Minh trong bài Phong Kiều đã viết:
Thuỷ minh nhân tĩnh Giang thành cô,
Y nhiên lạc nguyệt đề sương ô.
(Nước trong, lòng tĩnh, Giang thành vắng,
Trăng lặn, quạ kêu trong sương vẫn y như cũ.)
Những trích dẫn trên của Nguyễn Quảng Tuân đã cho ta cái nhìn khá chính xác bài thơ của Trương Kế. Những thắc mắc đời sau chỉ vì bài thơ quá nổi tiếng, trong khi họ chưa từng đến Hàn San Tự để “mục sở thị”, hoặc bới lông tìm vết khi đã tự ý lìa phạm trù thi ca vốn nhạy cảm mơ hồ mà bắt bẻ đó thôi.

Tôi chẳng dám cả quyết những điều mình muốn chứng minh. Chính những nghi vấn kia đã làm cho bài thơ thêm thú vị. Ở đây chỉ muốn nói, một lần đến Hàn San Tự, kết hợp với ý kiến của những người đi trước, đã cho tôi “thoả mãn” những cách hiểu của riêng mình. Há chẳng phải thích thú lắm sao!
Nhất Thanh Thích Nguyên Hiền






![[TRUYỀN HÌNH TRỰC TIẾP] Trọng thể khai mạc Đại lễ Vesak Liên Hiệp Quốc 2025 tại TP.HCM](https://chuatutam.net/wp-content/uploads/2025/05/vesak-360x180.jpg)





























Thảo luận về post