Bình chọn

Bạn biết đến Chùa Tự Tâm thông qua phương tiện nào?
 

Hình ảnh

  • 1256530_497479667013867_1014200401_n.jpg
  • 1289834_496972933731207_2129934441_n.jpg
  • 1305453_496972930397874_502961374_n.jpg
  • 1369081_496971993731301_1220368879_n.jpg
  • 1371508_496971997064634_1116290538_n.jpg
  • 1374406_496972943731206_2081264957_n.jpg
  • 1375658_497479367013897_1781351274_n.jpg
  • 1376863_496972950397872_816092381_n.jpg
  • 1377041_497480443680456_1164263196_n.jpg
  • 1377338_497480140347153_1549967075_n.jpg
  • img_3463.jpg
  • img_3493.jpg
  • img_3507.jpg
  • img_3521.jpg
  • img_4232.jpg
  • img_4240.jpg
  • img_4248.jpg
  • img_4346.jpg
  • img_4383.jpg
  • img_4427.jpg

Thông tin liên hệ

  • - Địa chỉ: Hẻm 426 đường Phan Bội Châu, tổ 17 khối 2, phường Thành Nhất, Tp Ban Mê Thuột, ĐăkLăk, Việt Nam
  • - Sư cô Thích Nữ Liên Tâm
  • - Email: chuatutam@gmail.com

Lịch Âm Dương

Thống kê truy cập

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay295
mod_vvisit_counterHôm qua356
mod_vvisit_counterTuần này1068
mod_vvisit_counterTuần trước3415
mod_vvisit_counterTháng này4483
mod_vvisit_counterTháng trước8135
mod_vvisit_counterTất cả1693304

Có: 10 khách, 2 bots trực tuyến

Văn Hoá - Kiến Trúc Phật Giáo

Xá-lợi Phật

Email In
Share

GN - Trước đây người ta không tin là có xá-lợi Phật. Mãi đến năm 1898, ông W.C. Peppé, người Pháp, tiến hành khảo cổ tại vùng Pīprāvā, phía Nam nước Népal, đã tìm thấy một cái hộp bằng đá khá lớn, trong đó có chứa hai chiếc bình bằng đá và vài dụng cụ bằng đá khác như tách trà…

Hai bình đá một lớn một nhỏ đều có chứa những viên xá-lợi. Bình đá nhỏ dạng hình cầu, chia thành hai phần thượng hạ. Nửa phần trên có hình tay cầm, khắc niên đại của vua A-dục bằng văn tự Brahmī, và người ta đã đọc được nội dung của nó như sau: “Đây là xá-lợi của Đức Phật. Phần xá-lợi này do bộ tộc Śākya, nước Śrāvastī phụng thờ”. Kết quả của việc khảo cổ này đã chứng minh những gì được ghi lại trong kinh Trường A-hàm và rải rác ở những kinh khác về việc phân chia xá-lợi của Phật thành 8 phần cho 8 quốc gia cổ đại Ấn Độ sau khi Phật nhập Niết-bàn hoàn toàn là sự thật.

xa-loi-phat.jpg

Xá-lợi Phật được tôn trí tại Bảo tàng New Delhi (Ấn Độ)

Kinh Trường A-hàm (kinh Du hành) ghi: “Lúc đó dân Mạt-la nước Ba-bà nghe Phật diệt độ tại Song thọ, tự nghĩ: ‘Ta nên đến đó cầu lấy phần xá-lợi về dựng tháp cúng dường tại trong nước’. Các người Mạt-la nước Ba-bà liền hạ lệnh đem bốn thứ binh là tượng binh, mã binh, xa binh, bộ binh, đi đến thành Câu-thi và cử sứ giả nói:

‘Chúng tôi nghe Đức Phật đã diệt độ tại đây. Phật cũng là thầy chúng tôi. Vì lòng kính mộ Ngài, chúng tôi đến xin phần xá-lợi về nước dựng tháp cúng dường’.

Vua Câu-thi đáp:

‘Thật vậy, đúng như ngài nói. Nhưng vì Đức Thế Tôn đã giáng lâm và diệt độ tại đây. Nhân dân trong nước tôi tự lo cúng dường. Phiền các ngài từ xa đến cầu xá-lợi. Nhưng điều đó hẳn là không được!’.

Đồng thời dân Bạt-ly nước Giá-la-phả, dân Câu-lị nước La-ma-gia, dân chúng dòng Bà-la-môn nước Tỳ-lưu-đề, dân chúng dòng họ Thích nước Ca-duy-la-vệ, dân chúng dòng Lệ-xa nước Tỳ-xá-ly, và vua A-xà-thế nước Ma-kiệt, nghe Đức Như Lai diệt độ tại rừng Sa-la ở thành Câu-thi, đều tự nghĩ: ‘Ta nay nên đến đó chia phần xá-lợi’.

Bấy giờ, Bà-la-môn Hương Tánh đứng ra hiểu dụ mọi người:

‘Chư hiền lãnh thụ giáo huấn của Phật đã lâu, miệng tụng pháp ngôn, tâm khoác nhân hóa, thường mong cho chúng sanh thảy được an lành, nay há lẽ vì giành xá-lợi của Phật mà trở nên tàn hại nhau sao? Di thể Như Lai nếu muốn có lợi ích rộng rãi, thì xá-lợi hiện tại nên chia ra nhiều phần’.

Chúng đều khen phải. Họ lại bàn nghị nên nhờ ai đủ sức chia giúp. Mọi người đều nói Bà-la-môn Hương Tánh là người nhân trí quân bình, có thể chia được. Các quốc vương bèn sai Hương Tánh:

‘Ngươi hãy vì chúng ta mà chia xá-lợi làm 8 phần bằng nhau’.

Tiếp đó Hương Tánh lấy một bình dung lượng chừng một thạch, rồi chia đều xá-lợi ra làm 8 phần, xong, ông nói với mọi người:

‘Các ngài bàn bạc cho tôi xin cái bình đó để dựng tháp thờ tại nhà riêng’.

Mọi người đều nói:

‘Trí tuệ thay. Như thế là thích hợp’. Và họ đồng ý cho.

Lúc đó, có người thôn Tất-bát cũng đến xin phần tro còn lại để dựng tháp cúng dường. Mọi người cũng bằng lòng.

Sau khi người nước Câu-thi được xá-lợi liền dựng tháp cúng dường. Các nước Ba-bà, Giá-la, La-ma-già, Tỳ-lưu-đề, Ca-duy-la-vệ, Tỳ-xá-ly, Ma-kiệt sau khi được xá-lợi đều đem về nước dựng tháp cúng dường. Bà-la-môn Hương Tánh đem cái bình dùng chia xá-lợi về nhà dựng tháp cúng dường. Dân chúng thôn Tất-bát đem phần tro còn lại về dựng tháp cúng dường.

Như vậy, xá-lợi Phật được chia thờ ở 8 tháp, tháp thứ 9 là cái bình, tháp thứ 10 là tháp tro và tháp thứ 11 là tháp tóc, thờ tóc Phật khi còn tại thế”.

Như vậy, theo ghi chép trong kinh, xá-lợi Phật được chia thành 8 phần cho 8 quốc gia dựng tháp phụng thờ, và thực tế đến thời đại A-dục thống nhất Ấn Độ, vua khai quật tháp xá-lợi ở nước La-ma-già (Rāmagāma) và 7 nước kia, lấy xá-lợi phân chia thành 84.000 phần để trong 84.000 bảo tráp (cái hộp nhỏ), rồi kiến lập 84.000 bảo tháp để phụng thờ khắp nơi.

Xá-lợi (舍利), Phạn śarīra, nguyên nghĩa là tử thi, di cốt, xương cốt còn lại sau khi chết, còn gọi là thật-lợi (實利), thiết-lợi-la (設利羅), thất-lợi-la (室利羅), tất cả đều chỉ cho xương cốt còn lại sau khi thiêu. Thông thường, khi chỉ cho di cốt của Phật, gọi là Phật cốt (佛骨), Phật xá-lợi (佛舍利). Sau này, tất cả chư vị cao tăng viên tịch, sau khi thiêu, tro cốt còn lại đều được gọi là xá-lợi.

Theo kinh Kim quang minh (quyển 4, phẩm Xả thân): “Xá-lợi là kết quả của quá trình huân tu Giới, Định, Tuệ rất khó đạt được, cho nên nó là ruộng phước tối thượng trên đời”.

Luận Đại trí độ (quyển 59), nói: “Cúng dường xá-lợi Phật, cho dù nhỏ như hạt cải, cũng được phước báo vô lượng vô biên”. Luận này cũng cho biết, xá-lợi là kết quả tu tập sáu pháp ba-la-mật mà thành.

Trường A-hàm (quyển 4, kinh Du hành); Bồ-tát xử thai kinh (quyển 3, phẩm Thường, vô thường), Pháp hoa kinh (phẩm Đề-bà-đạt-đa) v.v… đều ghi nhận có hai loại xá-lợi là toàn thân xá-lợi (xá-lợi nguyên vẹn thân thể) và toái thân xá-lợi (xá-lợi sau khi thiêu).

Như vậy, chư vị Thánh tăng, những người đã đạt được giải thoát đều có xá-lợi. Tuy nhiên, việc lưu lại xá-lợi tùy theo hạnh nguyện của mỗi người mà có vị lưu lại toàn thân xá-lợi (như Phật Đa Bảo, Lục tổ Huệ Năng, Thiền sư Vũ Khắc Minh…), có người lưu lại toái thân xá-lợi (Như Phật Thích-ca lưu lại xá-lợi xương cốt, Cưu-ma-la-thập lưu lại xá-lợi lưỡi, Hòa thượng Thích Quảng Đức lưu lại xá-lợi quả tim…), thậm chí có vị không lưu lại xá-lợi.

Xá-lợi là kết của quá trình tu chứng. Nó vừa là giá trị của sự tu học, vừa là bằng chứng chứng minh cho giáo pháp của Đức Phật thật sự đưa đến kết quả giác ngộ giải thoát.

Kinh Công đức tắm Phật phân xá-lợi làm hai loại:

1. Sanh thân xá-lợi, còn gọi là thân cốt xá-lợi, tức là di cốt của Phật và các Thánh tăng, gồm toàn thân xá-lợi và toái thân xá-lợi.

2. Pháp thân xá-lợi, còn gọi là pháp tụng xá-lợi, tức là giáo pháp, giới luật do Phật giảng dạy. Loại xá-lợi này hiển thị sau khi Phật diệt độ, bởi người Phật tử nhận thức rằng, giáo pháp và giới luật do Phật giảng dạy tồn tại mãi ở đời làm chỗ nương tựa cho tất cả chúng sanh, nó không khác gì Đức Phật còn tại thế, không khác gì thân cốt xá-lợi, nên gọi giáo và giới luật là pháp tụng xá-lợi, hay gọi tắt là pháp xá-lợi. Đây mới là xá-lợi đích thực!

Về xá-lợi của Phật Thích-ca, căn cứ Đại sử (Mahāvaṃsa), chương XVII, ghi: Con trai của vua A-dục là thái tử Ma-hin-da (Mahinda) sau khi xuất gia đã đến Tích Lan hoằng pháp. Vua Tích Lan bấy giờ là Thiên Ái Đế Tu (Devānaṃpiya-tissa) nhiệt liệt hoan nghênh và đích thân hướng về quốc vương A-dục để thỉnh cầu xá-lợi răng Phật bằng nghi thức trang nghiêm nhất của quốc gia mình.

Trong Truyện Cao tăng Pháp Hiển cũng có ghi, vua của nước Sư Tử (Tích Lan) cầu được xá-lợi răng Phật. Đại Đường Tây Vực ký (quyển 11), cũng ghi chép tương tự rằng, trong vương cung của Tích Lan có tinh xá tôn thờ xá-lợi răng Phật.

Truyện Cao tăng Pháp Hiển còn cho biết trong đô phủ Hê-la (Hiḍḍa) của nước Na-yết-la-hạt (Nagarahāra) có tinh xá thờ xá-lợi đảnh cốt của Phật, cho nên đô phủ này còn có tên là ‘Phật đảnh cốt thành’ (Thành thờ cốt đỉnh đầu của Phật).

Truyện Cao tăng nhà Đường đi Tây Vực cầu pháp (quyển thượng, mục Huyền Chiếu), cũng có ghi rằng: Huyền Chiếu từng đến nước Ca-tất-thí (Kapiśa) để lễ bái xá-lợi đỉnh đầu của Như Lai.

Đại Đường Tây Vực ký (quyển 20), chép rằng: Lúc Huyền Trang về nước có thỉnh về 150 viên xá-lợi nhục thân của Như Lai.

Truyện Cao tăng đời nhà Tống (quyển 1), cũng có ghi rằng: Lúc Nghĩa Tịnh về nước có đem về 300 viên xá-lợi.

Người đời sau cho rằng xá-lợi có hình dạng như những hạt đậu, rất cứng và hơi trơn láng, phần nhiều được an trí trong những tháp nhỏ để cúng dường. Đại bộ phận quần chúng Phật tử đều tin rằng sau khi làm lễ trà tỳ di thể của Đức Phật, người ta thu được rất nhiều những viên xá-lợi như thế, và rất cứng chắc, cứng đến nỗi dùng búa đập vẫn không vỡ, nhưng nếu lấy xá-lợi đệ tử của Phật để cắt thì phân chia được! Tuy nhiên, trong những thế kỷ gần đây, tại Ấn Độ, các nhà khảo cổ đã khai quật và phát hiện ra được một phần trong tám phần xá-lợi của Đức Phật và nhận ra rằng hình dạng của xá-lợi cũng giống như xương cốt của người bình thường sau khi hỏa táng, chứ không phải là hình hạt đậu mà cũng không phải cứng chắc như người ta tưởng!

Sự linh nghiệm của xá-lợi Phật xưa nay xảy ra rất nhiều. Chuyện do thành tâm cầu nguyện mà cảm được xá-lợi Phật cũng có ghi chép rất nhiều. Theo cuốn Truyện Cao tăng (quyển 1), mục ghi chép chuyện cao tăng người Việt Nam là Khương Tăng Hội, có kể rằng: Vào lúc bấy giờ vua nước Ngô là Tôn Quyền vốn không tin Phật giáo, nên đã từng triệu Khương Tăng Hội vào cung để hỏi xem Phật giáo có sự linh nghiệm gì? Tăng Hội nói nội trong vòng ba tuần sẽ cầu được xá-lợi, có hào quang năm màu chiếu diệu vô cùng. Quả nhiên sau hai mươi mốt ngày Khương Tăng Hội cầu được xá-lợi, Tôn Quyền sai lực sĩ dùng chày đá đập xá-lợi, kỳ lạ thay chày đá vỡ tan mà xá-lợi không mảy may hao tổn, Tôn Quyền khi ấy mới tin Tam bảo.

Sự kiện cầu xá-lợi có cảm ứng như vậy đều thấy ghi chép trong Tam bảo cảm thông lục, Quảng hoằng minh tập, Pháp uyển châu lâm…

Tuy nhiên, căn cứ vào khảo cổ học và những điều được ghi chép trong kinh A-hàm thì Đức Phật Thích Ca đã để lại xá-lợi mà ngày nay chúng ta có thể trông thấy tôn trí trong Bảo tàng quốc gia Ấn Độ, nó trông như xương cốt của người bình thường sau khi thiêu còn lại, chứ không phải có những hình thù như chúng ta trông thấy trong các cuộc triển lãm và cho thỉnh xá-lợi tràn lan gần đây. Do đó, thay vì chạy theo những giá trị hư ảo và phong trào, chúng ta hãy quay về nương tựa pháp thân xá-lợi, tức là giáo pháp và giới luật của Phật để lại, nhằm nỗ lực hành trì nhằm chuyển hóa khổ đau mới là hành động học Phật, tu Phật thiết thực nhất.


Thích Nguyên Hùng

Theo Giác Ngộ

Lần cập nhật cuối ( Thứ tư, 17 Tháng 1 2018 20:25 )
 

Chùa Bạch Mã: cái nôi của Phật giáo Trung Quốc

Email In
Share
Chùa Bạch Mã (白馬寺) là một trong những ngôi chùa cổ nhất ở Trung Quốc và được xem là cái nôi của Phật giáo xứ này. Theo truyền thuyết, vào năm 64 TL, vua Minh Đế (28-75) nhà Hán nằm mơ thấy một vị thần có sắc thân vàng bay từ phương Tây đến hoàng cung.

Sáng hôm sau nhà vua kể lại sự việc với các triều thần và được một vị đại thần tâu rằng ông nghe nói ở Tây Trúc có một người đắc đạo được xưng là Phật. Người này có thể bay trên không và thân thể phát ra ánh sáng vàng rực rỡ. Và rằng vị thần mà nhà vua gặp trong mơ có thể là Đức Phật đó. Tin lời vị đại thần, nhà vua sau đó phái một phái đoàn gồm 18 người đến Tây Trúc để thỉnh kinh Phật. 

Phái đoàn này đã đến Ấn Độ và ba năm sau, vào niên hiệu Vĩnh Bình thứ 10, cùng với hai Tăng sĩ Ấn Độ là Ca Diếp Ma Đằng (Kasyapa Matanga) và Trúc Pháp Lan (Dharmaranya), họ trở về và mang theo một tượng Phật, xá-lợi cùng với nhiều kinh sách được chở bởi một con ngựa trắng.

chua bm 2.jpg
Một góc chùa Bạch Mã

Khi hai ngài Ca Diếp Ma Đằng và Trúc Pháp Lan đến Lạc Dương1, họ được thỉnh đến cư ngụ tại Hồng Lô tự, một dinh thự dành để tiếp đón khách nước ngoài. Năm tiếp theo nhà vua cho xây dựng một ngôi chùa bên ngoài Tây Ung Môn (西雍門) của Lạc Dương để cho hai vị Tăng cư ngụ và dịch kinh. Sử sách ghi chép rằng địa điểm xây dựng ngôi chùa vốn là nơi Hán Minh Đế sử dụng như một nơi nghỉ mùa hè. Ngôi chùa được đặt tên là “Bạch Mã” để tưởng nhớ công việc khó khăn mà con bạch mã đã đảm nhiệm, là mang kinh Phật từ Ấn Độ đến Trung Quốc.

Bản dịch Hán ngữ đầu tiên kinh Tứ thập nhị chương (四十二章經) được thực hiện tại ngôi chùa này. Ngôi chùa sau đó trở thành một địa điểm quan trọng trong việc phát triển Phật giáo ở Trung Quốc và truyền bá sang các nước khác như Nhật Bản và Hàn Quốc. Nó thậm chí được sử dụng như một nơi lánh nạn trong suốt thời kỳ nổi loạn của Vương Mãng (王莽) vào đời Đông Hán. Vào năm 258, một Tăng sĩ người Kuchean (Quy Từ) đã dịch sáu bản kinh Phật sang Hán ngữ tại ngôi chùa này, trong đó có kinh Vô lượng thọ.

Ngài Trúc Pháp Hộ (竺法護 Dharmarakṣa), một dịch giả nổi tiếng của Phật giáo, đã đến Lạc Dương vào năm 266 và đã lưu trú ở chùa Bạch Mã từ năm 289 đến 290. Vào triều Đường, ngài Huyền Trang sau khi trải qua 17 năm ở Ấn Độ, lúc trở về đã lưu trú tại Bạch Mã và ở đây ngài đã dành cả cuộc đời còn lại cho việc dịch thuật kinh Phật. Dưới thời nữ hoàng Võ Tắc Thiên (624-705), chư Tăng tu học tại chùa Bạch Mã được cho lên đến 1.000 vị.

Chùa Bạch Mã trải qua nhiều thăng trầm và đã có những lần bị tàn phá nặng nề. Ngôi chùa này từng bị tàn phá nghiêm trọng vào thời nổi loạn của An Sử (755-763). Đến thời Hội Xương (840-846) tiêu diệt Phật giáo, nó lại bị phá hoại nghiêm trọng hơn. Dưới thời Tống Thái Tông, chùa Bạch Mã lại được sửa chữa. Một bản chữ viết trên tấm bia nằm cận tháp Tề Vân có niên đại 1175 nói rằng năm thập kỷ trước đó có một vụ hỏa hoạn xảy ra đã thiêu hủy ngôi chùa và một ngôi bảo tháp. Và bản khắc bia cũng nói rằng một triều thần đời Nguyên sau đó đã cho xây dựng lại ngôi chùa.

Những kiến trúc chính tại Bạch Mã hầu như được xây vào đời Minh (1368-1644) và đời Thanh (1644-1912). Vào những năm 50 thế kỷ trước, ngôi chùa lại được trùng tu; và sau đó vào năm 1973, nó lại một lần nữa được sửa chữa do những ảnh hưởng sau cuộc Cách mạng Văn hóa. Vào năm 1992, với sự tài trợ của Thái Lan và những thí chủ Trung Quốc, một điện thờ mang kiến trúc Thái Lan đã được xây dựng ở phía Tây của ngôi chùa cũ.

Vào năm 2008, ngôi chùa được mở rộng với việc xây dựng một ngôi bảo tháp mang kiến trúc Ấn Độ (tương tự như tháp Sanchi ở bang Madhya Pradesh); và một sảnh đường mới cũng được xây dựng dưới sự hợp tác của Trung Quốc và Ấn Đô.

Tọa lạc trên một diện tích khoảng 13 héc-ta, chùa Bạch Mã hiện nay bao gồm nhiều công trình khác nhau, như Thiên vương điện, Đại Phật điện, Đại hùng bảo điện, Phật điện Tỳ Lô, Tổ đường, Tiếp dẫn điện, La Hán đường, Thanh lương đài.v.v… Ở đây cũng có lăng mộ của hai vị Đại sư Ca Diếp Ma Đằng và Trúc Pháp Lan. Hai Tăng sĩ Ấn Độ này sau khi qua đời được an táng tại đây.

Cách chùa Bạch Mã 250 mét về phía Đông có một ngôi bảo tháp được gọi là Tề Vân (齊雲塔). Ngôi tháp này vốn được làm bằng gỗ dưới thời nhà Đường, nhưng đã bị hư hoại vào cuối đời Bắc Tống (960-1127). Ngôi tháp hiện tại được làm bằng gạch và được xây vào năm 1175 dưới thời nhà Nguyên. Ngôi tháp này gồm 13 tầng và cao 25 mét, được xem là một kiến trúc cổ nhất tại Lạc Dương.

chua bm 1.jpg
Đây là địa chỉ tham quan không thể bỏ qua của du khách thập phương

Ngày nay chùa Bạch Mã là một địa chỉ tham quan không thể bỏ qua đối với nhiều người khi đến Lạc Dương. Mặc dù không phải là ngôi chùa lớn nhất cũng không phải là một danh lam đẹp nhất, chùa Bạch Mã vẫn là một nơi đáng được tham quan và chiêm bái bởi những sự kiện lịch sử gắn liền với nó cũng như một số lớn nhưng di tích Phật giáo có mặt ở đây.

Nguyễn Đăng

________________

(1) Nằm ở phía Tây của tỉnh Hà Nam, Lạc Dương là một trong bảy kinh đô cổ của Trung Quốc. Lạc Dương là kinh đô của chín triều đại trải qua một thời kỳ kéo dài hơn 1.500 năm. Tầm quan trọng của Lạc Dương được thể hiện ở sự ảnh hưởng đáng kể của nó vào di sản văn hóa Trung Quốc. Mặc dù những chuyển biến lịch sử trong những thế kỷ cuối đã hủy hoại một số những di tích lịch sử tại đây, Lạc Dương vẫn giữ lại được nhiều nét cổ xưa ý nghĩa và nhiều di tích quan trọng.

Theo Giacngo

Lần cập nhật cuối ( Thứ năm, 11 Tháng 1 2018 17:44 )
 

Đền thờ Phật tuyệt đẹp dưới đáy biển Indonesia

Email In
Share

Đất nước Indonesia nổi tiếng với ngôi đền thờ Phật giáo độc đáo nhất thế giới, Borobudur (hay còn gọi là Candi Borobudur theo tiếng địa phương), nhưng đất nước này hiện vẫn còn ẩn giấu một ngôi đền thờ Phật tuyệt đẹp khác đang chìm dưới đáy biển. Vẻ nguy nga tráng lệ và trang nghiêm của di tích đền thờ Phật này không hề thua kém gì so với Borobudur, đủ để làm rung động cả thế giới.

Vậy, ngôi đền thờ Phật chìm dưới đáy biển này là di tích của thời kỳ nào? Kỳ thực vẫn chưa tìm được đáp án chính xác cho câu hỏi này. Nhưng nếu căn cứ vào hình dạng kiến trúc và kiểu dáng của nó thì khả năng lớn là nó có cùng niên đại với đền thờ Borobudur tức là vào thế kỷ 7-8 sau công nguyên. Bởi vì vào thời kỳ Phật giáo phát triển hưng thịnh ở quốc gia Srivijaya (thế kỷ 7-8) này, việc kiến tạo đền bằng đá đã trở thành một trào lưu mạnh mẽ ở nơi đây và Borobudur là một ví dụ.

Theo thông tin hiện có, di tích đền thờ Phật này nằm ở vùng biển cách không xa so với Borobudur. Indonesia nằm ở khu vực núi lửa hoạt động mạnh từ xưa đến nay, những vụ núi lửa lớn nhỏ hoạt động đã khiến nơi đây xảy ra nhiều tai nạn thiên nhiên, cũng làm thay đổi vỏ trái đất. Đền chùa được kiến tạo bằng đá mặc dù dễ bảo tồn, nhưng muốn ngăn cản sự ảnh hưởng  của sự vận động của vỏ trái đất thì cũng không phải việc dễ dàng. Vì vậy, trong lịch sử  Borobudur đã từng bị chôn vùi bởi núi lửa và di tích đền thờ Phật đang chìm dưới đáy biển này có thể cũng đã gặp phải cảnh ngộ này. Còn có một số đền thờ Phật có kiến trúc tương tự đã vì sự biến đổi tự nhiên mà bị thay đổi hình dạng và vị trí địa lý.


Pho tượng Phật di tích tuyệt đẹp dưới đáy biển Indonesia


Đền thờ Phật tuyệt đẹp dưới đáy biển Indonesia

Đền thờ Phật tuyệt đẹp dưới đáy biển Indonesia


Theo: Vietdaikynguyen

Lần cập nhật cuối ( Thứ năm, 11 Tháng 1 2018 17:49 )
 

SỰ TÍCH VÀ Ý NGHĨA CỦA NGÀY LỄ VU LAN

Email In
Share

Trong tâm thức mỗi người dân Việt Nam lễ Vu Lan (nhằm ngày 15/7 âm lịch) từ lâu đã thành một ngày trọng đại, không thể thiếu được trong hệ thống các hoạt động văn hoá tâm linh nói chung, văn hoá Phật giáo nói riêng. Chính vì vậy, trong bài viết này người viết xin được lần lượt đi vào giải quyết hai vấn đề đó là: Nguồn gốc và nghĩa giáo dục của lễ Vu Lan.

1. Nguồn gốc của lễ Vu Lan.

Vu Lan hay Vu Lan bồn có nguồn gốc từ chữ phạn Ullambana, dịch sang tiếng Hán ngữ là Giải đảo huyền, tức là gỡ khỏi nạn treo ngược–theo nghĩa tiếng Việt. Mà hiểu rộng ra là nhờ vào sự thành tâm chú nguyện của Thập phương chư Tăng mà chúng ta có thể cứu được cha mẹ, tổ tiên thoát khỏi cảnh tội đồ, cầu nguyện cho chúng sinh được siêu thoát, khỏi vòng sinh tử luân hồi.

Theo Phật thoại: Tôn giả Mục Kiền Liên là một trong số ít đệ tử xuất chúng của Ðức Phật. Ngài có quyền pháp vô biên, nhưng không vì thế mà Ngài quên đi nghĩa vụ của một người con đối với cha mẹ. Một lần, dùng tuệ nhãn quan sát khắp “bốn phương tám hướng” Tôn giả Mục Kiền Liên thấy mẹ mình (là bà Thanh Ðề) đang chịu cảnh tội đồ trong ngục A tỳ, thân thể gầy héo, xanh xao, chỉ còn da bọc xương, khổ đau khôn xiết. Dù biết đó là do kết quả của thói tham lam, độc ác, sự dối trá từ thuở sinh thời mẹ đã gây nên, nhưng Ngài vẫn không khỏi thương xót. Dùng pháp thuật của mình, Tôn giả Mục Kiền Liên mang cơm dâng lên mẹ. Nhưng, do nghiệp quá lớn nên bát cơm bà Thanh Ðề cầm trên tay bỗng hoá thành than đỏ. Chứng kiến cảnh tượng ấy, Ngài rất đau lòng, về bạch lại với Phật, mong Ðức Phật cứu vớt để linh hồn mẹ mình được siêu thoát. Cảm động trước tấm lòng hiếu nghĩa của Tôn giả Mục Kiền Liên, Ðức Phật đã chỉ cách để Ngài có thể cứu vớt được mẹ ra khỏi cảnh đoạ đầy. Ðức Phật nói: “Ông tuy quyền phép vô biên, lại hiếu thảo hơn người, tấm lòng của ông làm cảm động cả trời đất nhưng tội ác của mẹ ông quá nặng, một mình ông không thể cứu được mẹ. Ðến ngày rằm tháng bảy, Chư Phật hoan hỉ, Chư Tăng tự tứ, hãy sửa soạn lễ vật cúng Dàng, thành tâm thỉnh cầu Chư Tăng chú nguyện thì mẹ ông mới có thể siêu thoát được”.

Theo lời Phật dạy, nhằm ngày Rằm tháng Bảy, Tôn giả Mục Kiền Liên lập bồn Vu Lan (chậu đựng đồ lễ cúng dàng), thỉnh mời Chư Tăng đến chú nguyện. Nhờ đó bà Thanh Ðề mới được siêu thoát. Các vong linh khác cũng nhờ phúc lành của Chư Tăng mà được siêu thoát. Noi gương hiếu đễ của Tôn giả Mục Kiền Liên, hàng năm, cứ đến ngày Rằm tháng Bảy các tín đồ, Phật tử khắp nơi lại tưng bừng tổ chức ngày lễ Vu Lan với tín tâm cầu cha mẹ, ông bà, tổ tiên mình sẽ được thoát khỏi tội đồ.

2. Ý nghĩa lễ Bông hồng cài áo

"Nếu anh còn mẹ, anh sẽ được cài một bông hoa màu hồng trên áo, và anh sẽ tự hào được còn mẹ. Còn nếu anh mất mẹ, anh sẽ được cài trên áo một bông hoa trắng. Người được hoa trắng sẽ thấy xót xa, nhớ thương không quên mẹ, dù người đã khuất. Người được hoa hồng sẽ thấy sung sướng nhớ rằng mình còn mẹ, và sẽ cố gắng để làm vui lòng mẹ, kẻo một mai người khuất núi có khóc than cũng không còn kịp nữa". (Theo tản văn Bông hồng cài áo của Thiền sư Thích Nhất Hạnh)

Tháng 7, mùa Vu Lan về cùng với ngày Rằm xá tội vong nhân mà người ta còn gọi là ngày tết Trung Nguyên. Theo sách nhà Phật, ngày này các vong nhân không có nơi nương tựa, không có thân thích trên cõi trần gian để thờ phụng hay những linh hồn vì một oan khiên nào đó vật vờ sẽ được xá tội. Ngày lễ Vu Lan hay Tết Trung Nguyên là ngày lễ hội truyền thống " ân tình, nghĩa cảm" của nhân dân ta. Một tấm lòng trong vạn tấm lòng bao dung - một nét đẹp trong văn hoá dân tộc Việt đã được gìn giữ bao đời nay.

3. Ý nghĩa giáo dục

Ngày lễ Vu Lan là dịp “nhắc nhở” các thế hệ con cháu chúng ta nhớ tới công ơn dưỡng dục sinh thành của cha mẹ, ông bà, tổ tiên cũng như những đóng góp to lớn của các anh hùng dân tộc, những người có công với đất nước. Ðồng thời giúp chúng ta tiếp cận được những ý nghĩa giáo dục đầy nhân bản của văn hoá Phật giáo đó là “Từ, bi, hỷ, xả”, “vô ngã, vị tha”, “uống nước nhớ nguồn”, “ăn quả nhớ người trồng cây”...

Không riêng gì với mỗi Phật tử chúng ta, lễ Vu Lan mở ra cả một mùa báo ân, báo hiếu. Báo hiếu ở đây là báo hiếu đối với cha mẹ, không chỉ ở kiếp này mà còn ở nhiều kiếp khác, bởi Phật giáo luôn nhìn nhận con người trong mối tương quan nhân quả, trong vòng nghiệp háo luân hồi. Và cũng chính vì nhìn nhận dưới góc độ đó mà hết thảy mọi chúng sinh trong xã hội đều có mối quan hệ với nhau. Ðiều này dẫn đến việc chúng ta phải mở rộng phạm vi báo hiếu ra tất cả chúng sinh. “Phổ độ chúng sinh”, “cứu nhân, độ thế”, “xá tội vong nhân” nhờ vậy mà được hình thành. Mà như tác giả Vi Phương Anh đã nhận định thì: “... người Việt cử hành lễ Vu Lan nhằm giải tội cho người chết, cầu phúc cho người sống. Ðiều đặc biệt đáng chú ý là ngoài việc cầu siêu cho gia tiên, người Việt còn có lễ cầu siêu cho các cô hồn, u hồn của người khi tại thế đã thất cơ lỡ vận, phiêu bạt bơ vơ, không nơi nương tựa và chịu nhiều oan trái trong xã hội... bằng việc đọc bài văn tế cô hồn trong khi hành lễ. Vậy là tục cúng các cô hồn của người Việt đã giao hoà với tinh thần cứu khổ cứu nạn, cứu nhân, độ thế của nhà Phật làm cho lễ Vu Lan thêm phần phong phú và sống động”. Thật đúng là:

Tiết đầu thu lập đàn giải thoát

Nước tịnh bình rưới hạt dương chi

Muốn nhờ Đức Phật từ bi

Giải oan cứu độ, hồn về Tây phương.

Và:

Ai ơi lấy Phật làm lòng

Tự nhiên siêu thoát khỏi trong luân hồi

Ðàn chẩn tế đây lời Phật giáo

Của có chi bát cháo nén hương

Gọi là manh áo thoi vàng

Giúp cho làm của ăn đàng thăng thiên.

Báo hiếu là sự biểu hiện phẩm hạnh dạo đức của mỗi con người chúng ta. Trong xã hội, luôn luôn tồn tại hai hoạt động mang ý nghĩa dường như trái ngược nhau song lại gắn bó chạt chẽ với nhau đó là làm ơn (ân) và trả (báo) ơn (ân). Người xưa đã dạy: “Có hai điều dứt khoát phải làm, một là phải quên đi khi mình giúp đỡ người khác, hai là phải ghi nhớ, phải trả ơn khi người khác giúp mình”. Hành động làm ơn và trả ơn là không thể thiếu được trong bất cứ xã hội nào bởi trong cuộc sống con người đâu có tồn tại một cách độc lập, mà họ luôn tồn tại trong mối tương quan, trong sự gắn kết giữa các cá nhân với các chủ thể khác. Mác từng nói: “Con người là tổng hoà các mối quan hệ xã hội”, do đó, con người nếu đã hiếu nghĩa với cha mẹ, họ hàng thì không thể không yêu quý quốc gia; thầy cô, bè bạn; và mở rộng ra là với toàn thể chúng sinh, đồng bào. Cùng với báo ân cha mẹ, ba điều này hợp thành khái niệm: “Tứ ân” trong Phật giáo. Ðó chính là:

– Ơn cha mẹ: là ơn sinh thành dưỡng dục.

– Ơn thầy cô: là ơn dạy dỗ những kiến thức, những điều hay, lẽ phải.

– Ơn quốc gia xã hội: là ơn đảm bảo, giữ gìn môi trường sống hoà bình, ổn định.

– Ơn chúng sinh, đồng bào: là ơn những người đã sản xuất ra của cải vật chất để cho chúng ta tồn tại, phát triển.

Không ai có thể nói rằng trong bốn ân này, anh ta chỉ chịu ân này còn ân khác thì không. Như trên đã trình bày, con người luôn tồn tại trong mối tương quan với các cá nhân khác, là tổng hoà của nhiều mối quan hệ nên nhất thiết phải chịu cả bốn ân này. Tuy nhiên, trong khuôn khổ một bài viết ngắn, không cho phép có thể đi vào phân tích cả bốn ân này, nên, người viết chỉ tập trung vào chữ hiếu trong trường hợp đầu tức là hiếu với cha mẹ, ba trường hợp còn lại sẽ đề cập tới khi có điều kiện.

Ðạo Phật là đạo hiếu, lấy tình thương yêu con người (và cả muôn loài) làm đầu. Tình thương này bắt nguồn từ tình thương cha mẹ, sau đó mới mở rộng ra thành tình người, tình nhân loại. Chính vì vậy, trong các kinh điển của mình Ðức Phật dạy về đạo hiếu nhiều không kể xiết. Nào đời nay đã có hiếu. Nào kiếp trước cũng đã có hiếu. Nào hiếu về cung dưỡng cha mẹ. Nào hiếu về độ siêu cho cha mẹ.... Do đó, muốn tu theo Phật giáo phải lấy chữ hiếu làm đầu bởi vì kinh Phật đã dạy: “Phụng thờ cha mẹ là phụng thờ Ðức Phật”. Cụ thể hơn, Ðức Di Lặc đã có bài kệ rằng:

Trên nhà có hai pho tượng Phật

Thương cho người đời không biết mà.

Tượng ấy chẳng dùng vàng son phủ

Cũng chẳng phải gỗ mít tạc ra.

Tượng ấy chính là cha với mẹ

Chính là Di Lặc và Thích Ca

Nếu cúng dàng được hai tượng ấy

Còn phải cầu công đức đâu xa.

Và vì cha mẹ là người sinh ra ta, nuôi nấng dạy dỗ chúng ta từ thuở ấu thơ cho đến khi về già. Công lao đó của cha mẹ thật bao la, tựa non, tựa bể. Chính vì vậy, để phần nào đền đáp lại cái ơn nghĩa đó, chúng ta “Một lòng thờ mẹ, kính cha; Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con”. Ở đây sở dĩ nói phần nào bởi vì theo kinh Phật: “Trên thế gian này, công ơn cha mẹ là điều to lớn nhất”. Chính Đức Phật đã từng nhiều lần dạy: “Này các Tỳ kheo, có hai người mà ta không thể trả ơn đó là chính là cha và mẹ”. Với ơn nghĩa sinh thành ấy, chúng ta dù có “trăm nghìn muôn kiếp tán xương róc thịt ra để phụng dưỡng cha mẹ cũng vẫn chưa đền đáp được”.

Sự hiếu nghĩa của con cái đối với cha mẹ không chỉ được thể hiện trong sự cung phụng về vật chất mà còn trong lĩnh vực tinh thần. Cha mẹ cần tình cảm và sự chăm sóc của con cái: “Trẻ cậy cha, già cậy con”. Vì thế, bên cạnh việc lo chu đáo “miếng cơm, manh áo” cho cha mẹ, chúng ta cần phải “sớm viếng, tối thăm”, trò chuyện, vấn an cha mẹ để cha mẹ thật sự vui vẻ an hưởng tuổi già. Nhất là khi cha mẹ đau yếu, phải “rước thầy, đổi thuốc: hết lòng chăm sóc từ miếng ăn, nước uống, trên sắc mặt lúc nào cũng vui tươi, cầu cho bệnh chóng khỏi. Bổn phận làm con, làm được như thế, gọi là báo hiếu trong muôn một”. Cùng một quan điểm như vậy, từ hơn 2500 năm truớc Ðức Khổng Tử cũng đã từng dạy: “Ðời nay thấy ai nuôi dưỡng được cha mẹ thì khen là có hiếu. Nhưng chó, ngựa cũng được nuôi dưỡng. Vì thế nếu nuôi cha mẹ mà không kính trọng thì khác gì nuôi thú vật”. Hoặc như kinh Lễ cũng có đoạn viết: “Khi cha mẹ còn sống mà chỉ chăm chú vào việc làm giàu, không phụng dưỡng cha mẹ là không tròn đạo hiếu”. Ðức Khổng Tử còn dạy tiếp: “Có việc thì mình giúp, có rượu, thức ăn ngon mời cha mẹ là hiếu chăng? Giữ được sắc mặt vui vẻ khi ở chung với cha mẹ mới thật khó”.

Tuy nhiên, cũng đừng vì đặt quá chữ hiếu lên đầu mà chúng ta làm những điều “bất nhân, thất đức” hay hùa theo cha mẹ làm những điều ác, điều xấu để làm hại người khác. Hiếu như thế là “ngu hiếu”. Mà phải “Phát tâm học Phật, tu Phật rồi khuyên cha mẹ biết ăn chay niệm Phật, làm các phúc thiện thì mới có thể báo đền cân xứng với công sinh nuôi của cha mẹ như lời Phật đã dạy”. Bên cạnh đó, cũng phải sáng suốt để vừa hiếu thuận với cha mẹ lại vừa “lợi lạc, quần sinh”, vừa kế thừa và phát huy được những đức tính tốt của cha mẹ lại vừa biết khuyên can cha mẹ rời xa những điều không tốt, ấy mới là “chân hiếu”, là “trí hiếu”, là hiếu đễ thực sự như mọi người hằng ngưỡng mộ...

Tiếc thay, trong xã hội chúng ta hiện nay do những ảnh hưởng tiêu cực của nền kinh tế thị trường ít nhiều đã xuất hiện lối sống thực dụng, chạy theo lợi ích vật chất tầm thường mà quên đi những giá trị truyền thống của bản sắc văn hoá dân tộc, quên đi những nghĩa vụ thiêng liêng của con cái đối với cha mẹ. Phải thừa nhận rằng, thực tế vẫn còn có không ít những quan niệm về đạo hiếu thật đơn giản và lệch lạc.

Do đó, khi vận dụng vào cuộc sống đã không mang đầy đủ ý nghĩa đích thực của nó, biến đạo hiếu trở thành một thứ hình thức, câu nệ tầm thường, dẫn đến việc thực hành đạo hiếu chỉ còn là trách nhiệm, là nghĩa vụ mà không xuất phát lừ đáy lòng, từ trong tâm. Hoặc nếu không gượng ép thì cũng là thỉnh thoảng, không thường xuyên, mà nhiều khi còn mang tính thời điểm, cơ hội, sử dụng cha mẹ như những “công cụ” để mang lại lợi ích cho bản thân. Thật xót xa khi xã hội còn có những đứa con bất hiếu, những “nghịch tử” đang hàng ngày, hàng giờ ruồng rẫy cha mẹ, coi cha mẹ như gánh nặng bên mình.

Ấy vậy mà khi cha mẹ chết đi thì lại tổ chức ma chay linh đình những để người ngoài trông vào mà nghĩ đó là những đứa con “hiếu để”. Những “tấm gương” tày liếp đó, thiết nghĩ báo chí đã tốn không biết bao nhiêu giấy mực để lên án. Nhưng, dù có viết bao nhiêu đi chăng nữa cũng vẫn là chưa đủ nếu như chúng ta chưa hình thành đủ các chuẩn mực đạo đức cần thiết để có thể điều chỉnh được những hành vi “phi nhân tính” đó. Hay như bản thân mỗi con người không tự tu dưỡng, rèn luyện nhân cách, đạo đức để có thể có một cuộc sống lành mạnh, có ích, dời xa những cám dỗ của dục vọng...

Ðức Phật cũng chính là một tấm gương sáng về đạo hiếu. “Ðạo hiếu này tức như Ðức Thích Ca để phụ vương ở lại mà trốn vào rừng đi tu. Nhưng Ngài cố tu học cho đến thành Phật. Ðến nay người ta sùng bái Ngài mà sùng bái đến cả Tịnh Phạn vương. Ngôi vua nào tôn vinh, tràng viễn bằng”. Hay như khi Tịnh Phạn đại vương lâm chung. Ngài đã đứng ra lo liệu mọi việc, quỳ lạy trước vong linh cha rồi cung kính nghinh tiễn kim quan cha về nơi “an nghỉ cuối cùng” cho trọn đạo làm con. Như vậy, đã là tạo hiếu thì các đấng toàn năng, các bậc thánh hiền, hay người phàm trần cũng đều như nhau. Và dù có là Ðấng Giác Ngộ cao minh với quyền pháp vô biên hay một người dân bình thường nhất, thì với cha mẹ con cái bao giờ cũng vẫn là con cái, vì vậy, lo lắng hậu sự cho cha mẹ phải chăng là điều không cần phải bàn cãi gì thêm nhiều nữa.

Bấy nhiêu chưa đủ để nói lên tất cả những điều muốn nói của bản thân người viết cũng như của toàn xã hội, song, từ sự phân tích trên chúng ta cũng đã phần nào thấy được những ý nghĩa giáo dục cao cả của văn hoá Phật giáo trong tiến trình hình thành và phát triển bản sắc văn hoá dân tộc Việt Nam. Nhân mùa báo hiếu chúng ta cũng nhận thức lại những ý nghĩa đúng đắn của ngày lễ Vu Lan để có những hành động thiết thực hơn, tích cực hơn cho gia đình và cho xã hội. Có làm được như vậy thì mới có thể tự giải thoát được cho mình để rồi giải thoát cho người khác.

Phát huy truyền thống nhập thế của Phật giáo Việt Nam, chúng ta nguyện tu tập theo gương hiếu đễ của người xưa để góp phần xây dựng một xã hội tốt lành, thực hiện “tốt đời, đẹp đạo”.

Xin được thay cho lời kết, bằng việc mượn lời của Ni sư Thích Ðàm Hà trong bài “Cảm nghĩ về chữ Hiếu trong đạo Phật”

Thân người gốc ở mẹ cha

Trải bao cay đắng cũng là vì con

Công ơn như biển, như non

Ðạo làm con phải lo tròn hiếu tâm

Báo đền trả nghĩa ân thâm

Những điều hiếu nghĩa trọng tâm nghĩ bàn

Người ta sống ở thế gian

Bao nhiêu hưởng thụ bấy nhiêu ơn nhờ

Ơn dân, ơn nước, ơn người,

Ơn thầy, ơn bạn, ơn đời giúp ta.

__()__ Nam Mô Vu lan Duyên khởi Đại Hiếu Mục Kiền Liên Bồ tát ma ha tát __()__

 


Lần cập nhật cuối ( Thứ năm, 11 Tháng 1 2018 17:49 )
 
Trang 2 trong tổng số 3 trang.
Bạn đang ở: Trang chủ Văn Hoá - Kiến Trúc Phật Giáo

Thông tin cá nhân

Application afterLoad: 0.000 seconds, 0.28 MB
Application afterInitialise: 0.010 seconds, 1.69 MB
Application afterRoute: 0.021 seconds, 2.21 MB
Application afterDispatch: 0.065 seconds, 3.95 MB
Application afterRender: 1.221 seconds, 20.44 MB

Bộ nhớ sử dụng

21461632

78 các truy vấn đã được ghi lại

  1. SELECT *
      FROM jos_session
      WHERE session_id = 'gm43nvvhrijlucmg7lraba4sd7'
  2. DELETE
      FROM jos_session
      WHERE ( TIME < '1575972316' )
  3. SELECT *
      FROM jos_session
      WHERE session_id = 'gm43nvvhrijlucmg7lraba4sd7'
  4. INSERT INTO `jos_session` ( `session_id`,`time`,`username`,`gid`,`guest`,`client_id` )
      VALUES ( 'gm43nvvhrijlucmg7lraba4sd7','1575973216','','0','1','0' )
  5. SELECT *
      FROM jos_components
      WHERE parent = 0
  6. SELECT folder AS TYPE, element AS name, params
      FROM jos_plugins
      WHERE published >= 1
      AND access <= 0
      ORDER BY ordering
  7. SELECT *
      FROM jos_sef_subdomains
  8. SELECT MAX(TIME)  
      FROM jos_vvcounter_logs
  9. SELECT COUNT(*)
      FROM jos_sef_subdomains
      WHERE subdomain = 'chuatutam'
  10. SELECT `a`.`vars`, `u`.`sefurl`
      FROM `jos_sefaliases` AS `a`
      INNER JOIN `jos_sefurls` AS `u`
      ON `u`.`id` = `a`.`url`
      WHERE `a`.`alias` = 'van-hoa-kien-truc-phat-giao/blog/trang-2'
      AND `u`.`trashed` = '0'
  11. SELECT `file`, `params`
      FROM `jos_sefexts`
  12. SELECT *
      FROM `jos_sefurls`
      WHERE ((`sefurl` = 'van-hoa-kien-truc-phat-giao/blog/trang-2') OR (`sefurl` = 'van-hoa-kien-truc-phat-giao/blog/trang-2/'))
      AND (`origurl` != '')
      AND (`trashed` = '0')
      ORDER BY `priority`
      LIMIT 1
  13. UPDATE `jos_sefurls`
      SET `cpt` = (`cpt` + 1)
      WHERE `id` = '6731'
  14. SELECT m.*, c.`option` AS component
      FROM jos_menu AS m
      LEFT JOIN jos_components AS c
      ON m.componentid = c.id
      WHERE m.published = 1
      ORDER BY m.sublevel, m.parent, m.ordering
  15. SELECT template
      FROM jos_templates_menu
      WHERE client_id = 0
      AND (menuid = 0 OR menuid = 41)
      ORDER BY menuid DESC
      LIMIT 0, 1
  16. SELECT *
      FROM jos_jcomments_settings
  17. SELECT c.*, s.id AS sectionid, s.title AS sectiontitle, CASE WHEN CHAR_LENGTH(c.alias) THEN CONCAT_WS(":", c.id, c.alias) ELSE c.id END AS slug
      FROM jos_categories AS c
      INNER JOIN jos_sections AS s
      ON s.id = c.SECTION
      WHERE c.id = 33
      LIMIT 0, 1
  18. SELECT cc.title AS category, a.id, a.title, a.alias, a.title_alias, a.introtext, a.fulltext, a.sectionid, a.state, a.catid, a.created, a.created_by, a.created_by_alias, a.modified, a.modified_by, a.checked_out, a.checked_out_time, a.publish_up, a.publish_down, a.attribs, a.hits, a.images, a.urls, a.ordering, a.metakey, a.metadesc, a.access, CASE WHEN CHAR_LENGTH(a.alias) THEN CONCAT_WS(":", a.id, a.alias) ELSE a.id END AS slug, CASE WHEN CHAR_LENGTH(cc.alias) THEN CONCAT_WS(":", cc.id, cc.alias) ELSE cc.id END AS catslug, CHAR_LENGTH( a.`fulltext` ) AS readmore, u.name AS author, u.usertype, g.name AS groups, u.email AS author_email
      FROM jos_content AS a
      LEFT JOIN jos_categories AS cc
      ON a.catid = cc.id
      LEFT JOIN jos_users AS u
      ON u.id = a.created_by
      LEFT JOIN jos_groups AS g
      ON a.access = g.id
      WHERE 1
      AND a.access <= 0
      AND a.catid = 33
      AND a.state = 1
      AND ( publish_up = '0000-00-00 00:00:00' OR publish_up <= '2019-12-10 10:20:16' )
      AND ( publish_down = '0000-00-00 00:00:00' OR publish_down >= '2019-12-10 10:20:16' )
      ORDER BY  a.created DESC,  a.created DESC
      LIMIT 4, 8
  19. SELECT cc.title AS category, a.id, a.title, a.alias, a.title_alias, a.introtext, a.fulltext, a.sectionid, a.state, a.catid, a.created, a.created_by, a.created_by_alias, a.modified, a.modified_by, a.checked_out, a.checked_out_time, a.publish_up, a.publish_down, a.attribs, a.hits, a.images, a.urls, a.ordering, a.metakey, a.metadesc, a.access, CASE WHEN CHAR_LENGTH(a.alias) THEN CONCAT_WS(":", a.id, a.alias) ELSE a.id END AS slug, CASE WHEN CHAR_LENGTH(cc.alias) THEN CONCAT_WS(":", cc.id, cc.alias) ELSE cc.id END AS catslug, CHAR_LENGTH( a.`fulltext` ) AS readmore, u.name AS author, u.usertype, g.name AS groups, u.email AS author_email
      FROM jos_content AS a
      LEFT JOIN jos_categories AS cc
      ON a.catid = cc.id
      LEFT JOIN jos_users AS u
      ON u.id = a.created_by
      LEFT JOIN jos_groups AS g
      ON a.access = g.id
      WHERE 1
      AND a.access <= 0
      AND a.catid = 33
      AND a.state = 1
      AND ( publish_up = '0000-00-00 00:00:00' OR publish_up <= '2019-12-10 10:20:16' )
      AND ( publish_down = '0000-00-00 00:00:00' OR publish_down >= '2019-12-10 10:20:16' )
      ORDER BY  a.created DESC,  a.created DESC
  20. SELECT *
      FROM `jos_sefurls`
      WHERE `origurl` = 'index.php?option=com_content&format=feed&id=33&layout=blog&type=rss&view=category'
      AND (`trashed` = '0')
      LIMIT 2
  21. SELECT *
      FROM `jos_sefurls`
      WHERE `origurl` = 'index.php?option=com_content&format=feed&id=33&layout=blog&type=atom&view=category'
      AND (`trashed` = '0')
      LIMIT 2
  22. SELECT *
      FROM `jos_sefurls`
      WHERE `origurl` = 'index.php?option=com_content&catid=33&id=1352&view=article'
      AND (`trashed` = '0')
      LIMIT 2
  23. SELECT *
      FROM `jos_sefurls`
      WHERE `origurl` = 'index.php?option=com_content&catid=33&id=1352&view=article'
      AND (`trashed` = '0')
      LIMIT 2
  24. SELECT *
      FROM `jos_sefurls`
      WHERE `origurl` = 'index.php?option=com_content&id=33&layout=blog&view=category'
      AND (`trashed` = '0')
      LIMIT 2
  25. SELECT *
      FROM `jos_sefurls`
      WHERE `origurl` = 'index.php?option=com_content&catid=33&id=1352&view=article'
      AND (`trashed` = '0')
      LIMIT 2
  26. SELECT *
      FROM `jos_sefurls`
      WHERE `origurl` = 'index.php?option=com_content&catid=33&id=1317&view=article'
      AND (`trashed` = '0')
      LIMIT 2
  27. SELECT *
      FROM `jos_sefurls`
      WHERE `origurl` = 'index.php?option=com_content&catid=33&id=1317&view=article'
      AND (`trashed` = '0')
      LIMIT 2
  28. SELECT *
      FROM `jos_sefurls`
      WHERE `origurl` = 'index.php?option=com_content&id=33&layout=blog&view=category'
      AND (`trashed` = '0')
      LIMIT 2
  29. SELECT *
      FROM `jos_sefurls`
      WHERE `origurl` = 'index.php?option=com_content&catid=33&id=1317&view=article'
      AND (`trashed` = '0')
      LIMIT 2
  30. SELECT *
      FROM `jos_sefurls`
      WHERE `origurl` = 'index.php?option=com_content&catid=33&id=1309&view=article'
      AND (`trashed` = '0')
      LIMIT 2
  31. SELECT *
      FROM `jos_sefurls`
      WHERE `origurl` = 'index.php?option=com_content&catid=33&id=1309&view=article'
      AND (`trashed` = '0')
      LIMIT 2
  32. SELECT *
      FROM `jos_sefurls`
      WHERE `origurl` = 'index.php?option=com_content&id=33&layout=blog&view=category'
      AND (`trashed` = '0')
      LIMIT 2
  33. SELECT *
      FROM `jos_sefurls`
      WHERE `origurl` = 'index.php?option=com_content&catid=33&id=1309&view=article'
      AND (`trashed` = '0')
      LIMIT 2
  34. SELECT *
      FROM `jos_sefurls`
      WHERE `origurl` = 'index.php?option=com_content&catid=33&id=1300&view=article'
      AND (`trashed` = '0')
      LIMIT 2
  35. SELECT *
      FROM `jos_sefurls`
      WHERE `origurl` = 'index.php?option=com_content&catid=33&id=1300&view=article'
      AND (`trashed` = '0')
      LIMIT 2
  36. SELECT *
      FROM `jos_sefurls`
      WHERE `origurl` = 'index.php?option=com_content&id=33&layout=blog&view=category'
      AND (`trashed` = '0')
      LIMIT 2
  37. SELECT *
      FROM `jos_sefurls`
      WHERE `origurl` = 'index.php?option=com_content&catid=33&id=1300&view=article'
      AND (`trashed` = '0')
      LIMIT 2
  38. SELECT *
      FROM `jos_sefurls`
      WHERE `origurl` = 'index.php?option=com_content&catid=33&id=1243&view=article'
      AND (`trashed` = '0')
      LIMIT 2
  39. SELECT *
      FROM `jos_sefurls`
      WHERE `origurl` = 'index.php?option=com_content&catid=33&id=1131&view=article'
      AND (`trashed` = '0')
      LIMIT 2
  40. SELECT *
      FROM `jos_sefurls`
      WHERE `origurl` = 'index.php?option=com_content&id=33&layout=blog&view=category'
      AND (`trashed` = '0')
      LIMIT 2
  41. SELECT *
      FROM `jos_sefurls`
      WHERE `origurl` = 'index.php?option=com_content&id=33&layout=blog&view=category'
      AND (`trashed` = '0')
      LIMIT 2
  42. SELECT *
      FROM `jos_sefurls`
      WHERE `origurl` = 'index.php?option=com_content&id=33&layout=blog&view=category'
      AND (`trashed` = '0')
      LIMIT 2
  43. SELECT *
      FROM `jos_sefurls`
      WHERE `origurl` = 'index.php?option=com_content&id=33&layout=blog&limitstart=8&view=category'
      AND (`trashed` = '0')
      LIMIT 2
  44. SELECT *
      FROM `jos_sefurls`
      WHERE `origurl` = 'index.php?option=com_content&id=33&layout=blog&limitstart=8&view=category'
      AND (`trashed` = '0')
      LIMIT 2
  45. SELECT *
      FROM `jos_sefurls`
      WHERE `origurl` = 'index.php?option=com_content&id=33&layout=blog&view=category'
      AND (`trashed` = '0')
      LIMIT 2
  46. SELECT *
      FROM `jos_sefurls`
      WHERE `origurl` = 'index.php?option=com_content&id=33&layout=blog&limitstart=8&view=category'
      AND (`trashed` = '0')
      LIMIT 2
  47. SELECT id, title, module, POSITION, content, showtitle, control, params
      FROM jos_modules AS m
      LEFT JOIN jos_modules_menu AS mm
      ON mm.moduleid = m.id
      WHERE m.published = 1
      AND m.access <= 0
      AND m.client_id = 0
      AND ( mm.menuid = 41 OR mm.menuid = 0 )
      ORDER BY POSITION, ordering
  48. SELECT `catid`
      FROM `jos_content`
      WHERE `id` = '163'
  49. SELECT *
      FROM `jos_sefurls`
      WHERE `origurl` = 'index.php?option=com_content&id=163&view=article'
      AND (`trashed` = '0')
      LIMIT 2
  50. SELECT *
      FROM `jos_sefurls`
      WHERE `origurl` = 'index.php?option=com_content&id=4&layout=blog&view=category'
      AND (`trashed` = '0')
      LIMIT 2
  51. SELECT *
      FROM `jos_sefurls`
      WHERE `origurl` = 'index.php?option=com_content&id=26&layout=blog&view=category'
      AND (`trashed` = '0')
      LIMIT 2
  52. SELECT *
      FROM `jos_sefurls`
      WHERE `origurl` = 'index.php?option=com_content&id=21&layout=blog&view=category'
      AND (`trashed` = '0')
      LIMIT 2
  53. SELECT `catid`
      FROM `jos_content`
      WHERE `id` = '18'
  54. SELECT *
      FROM `jos_sefurls`
      WHERE `origurl` = 'index.php?option=com_content&id=18&view=article'
      AND (`trashed` = '0')
      LIMIT 2
  55. SELECT *
      FROM `jos_sefurls`
      WHERE `origurl` = 'index.php?option=com_content&id=33&layout=blog&view=category'
      AND (`trashed` = '0')
      LIMIT 2
  56. SELECT *
      FROM `jos_sefurls`
      WHERE `origurl` = 'index.php?option=com_content&id=4&layout=blog&view=category'
      AND (`trashed` = '0')
      LIMIT 2
  57. SELECT *
      FROM `jos_sefurls`
      WHERE `origurl` = 'index.php?option=com_content&id=23&layout=blog&view=category'
      AND (`trashed` = '0')
      LIMIT 2
  58. SELECT *
      FROM `jos_sefurls`
      WHERE `origurl` = 'index.php?option=com_content&id=27&layout=blog&view=category'
      AND (`trashed` = '0')
      LIMIT 2
  59. SELECT *
      FROM `jos_sefurls`
      WHERE `origurl` = 'index.php?option=com_content&id=28&layout=blog&view=category'
      AND (`trashed` = '0')
      LIMIT 2
  60. SELECT *
      FROM `jos_sefurls`
      WHERE `origurl` = 'index.php?option=com_content&id=24&layout=blog&view=category'
      AND (`trashed` = '0')
      LIMIT 2
  61. SELECT *
      FROM `jos_sefurls`
      WHERE `origurl` = 'index.php?option=com_content&id=25&layout=blog&view=category'
      AND (`trashed` = '0')
      LIMIT 2
  62. SELECT *
      FROM `jos_sefurls`
      WHERE `origurl` = 'index.php?option=com_content&id=29&layout=blog&view=category'
      AND (`trashed` = '0')
      LIMIT 2
  63. SELECT *
      FROM `jos_sefurls`
      WHERE `origurl` = 'index.php?option=com_content&id=32&layout=blog&view=category'
      AND (`trashed` = '0')
      LIMIT 2
  64. SELECT *
      FROM `jos_sefurls`
      WHERE `origurl` = 'index.php?option=com_content&id=31&layout=blog&view=category'
      AND (`trashed` = '0')
      LIMIT 2
  65. SELECT *
      FROM `jos_sefurls`
      WHERE `origurl` = 'index.php?option=com_content&id=33&layout=blog&view=category'
      AND (`trashed` = '0')
      LIMIT 2
  66. SELECT *
      FROM `jos_sefurls`
      WHERE `origurl` = 'index.php?option=com_content&id=34&layout=blog&view=category'
      AND (`trashed` = '0')
      LIMIT 2
  67. SELECT *
      FROM `jos_sefurls`
      WHERE `origurl` = 'index.php?option=com_content&id=35&layout=blog&view=category'
      AND (`trashed` = '0')
      LIMIT 2
  68. SELECT id, title, CASE WHEN CHAR_LENGTH(alias) THEN CONCAT_WS(':', id, alias) ELSE id END AS slug  
      FROM jos_polls
      WHERE id = 1
      AND published = 1
  69. SELECT id, text
      FROM jos_poll_data
      WHERE pollid = 1
      AND text <> ""
      ORDER BY id
  70. SELECT TIME, visits, guests, members, bots  
      FROM jos_vvcounter_logs  
      WHERE '1=1'  
      AND TIME > 1575910800
  71. SELECT session_id, TIME, guest, DATA  
      FROM jos_session  
      WHERE '1=1'  
      AND TIME >= 1575973063
  72. SELECT TIME, visits, guests, members, bots  
      FROM jos_vvcounter_logs  
      WHERE '1=1'  
      AND TIME <= 1575910800
  73. SELECT TIME, visits, guests, members, bots  
      FROM jos_vvcounter_logs  
      WHERE '1=1'  
      AND TIME > 1575824400  
      AND TIME <= 1575910800
  74. SELECT TIME, visits, guests, members, bots  
      FROM jos_vvcounter_logs  
      WHERE '1=1'  
      AND TIME > 1575738000  
      AND TIME <= 1575910800
  75. SELECT TIME, visits, guests, members, bots  
      FROM jos_vvcounter_logs  
      WHERE '1=1'  
      AND TIME > 1575133200  
      AND TIME <= 1575738000
  76. SELECT TIME, visits, guests, members, bots  
      FROM jos_vvcounter_logs  
      WHERE '1=1'  
      AND TIME > 1575133200  
      AND TIME <= 1575910800
  77. SELECT TIME, visits, guests, members, bots  
      FROM jos_vvcounter_logs  
      WHERE '1=1'  
      AND TIME > 1572541200  
      AND TIME <= 1575133200
  78. SELECT session_id, TIME, guest, DATA  
      FROM jos_session  
      WHERE TIME > 1575972317

0 các truy vấn quan trọng đã được ghi lại

    Nạp xong các file ngôn ngữ

    Untranslated Strings Diagnostic

    Không

    Untranslated Strings Designer

    Không