Bình chọn

Bạn biết đến Chùa Tự Tâm thông qua phương tiện nào?
 

Hình ảnh

  • 1256530_497479667013867_1014200401_n.jpg
  • 1289834_496972933731207_2129934441_n.jpg
  • 1305453_496972930397874_502961374_n.jpg
  • 1369081_496971993731301_1220368879_n.jpg
  • 1371508_496971997064634_1116290538_n.jpg
  • 1374406_496972943731206_2081264957_n.jpg
  • 1375658_497479367013897_1781351274_n.jpg
  • 1376863_496972950397872_816092381_n.jpg
  • 1377041_497480443680456_1164263196_n.jpg
  • 1377338_497480140347153_1549967075_n.jpg
  • img_3463.jpg
  • img_3493.jpg
  • img_3507.jpg
  • img_3521.jpg
  • img_4232.jpg
  • img_4240.jpg
  • img_4248.jpg
  • img_4346.jpg
  • img_4383.jpg
  • img_4427.jpg

Thông tin liên hệ

  • - Địa chỉ: Hẻm 426 đường Phan Bội Châu, tổ 17 khối 2, phường Thành Nhất, Tp Ban Mê Thuột, ĐăkLăk, Việt Nam
  • - Sư cô Thích Nữ Liên Tâm
  • - Email: chuatutam@gmail.com

Lịch Âm Dương

Thống kê truy cập

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay222
mod_vvisit_counterHôm qua494
mod_vvisit_counterTuần này1821
mod_vvisit_counterTuần trước7415
mod_vvisit_counterTháng này16758
mod_vvisit_counterTháng trước31398
mod_vvisit_counterTất cả1620511

Có: 18 khách trực tuyến

Tuổi Trẻ - Tình Yêu Và Lý Tưởng

Giàu có & hạnh phúc

Email In
Share
Mối liên hệ giữa giàu có và hạnh phúc

Thông thường, rất nhiều người trong chúng ta nghĩ rằng một người giàu có thường là người hạnh phúc, hay ít ra, họ dễ có cuộc sống hạnh phúc hơn người khác. Vì tin như thế, trong cuộc sống, chúng ta lao vào làm giàu và làm giàu không mệt mỏi để thực hiện khát vọng hạnh phúc của mình. Thế nhưng, kết quả nghiên cứu trong nhiều năm qua cho thấy rằng, sự thật không hẳn như vậy.

Bhutan10_03071.jpg

Trong một nghiên cứu ở Mỹ, Easterbrook (2003) cho thấy rằng mặc dù với thu nhập cao hơn, các dịch vụ y tế tiện nghi hơn và giáo dục ngày càng tốt hơn so với những năm trước, người ta vẫn cảm thấy rằng họ kém hạnh phúc hơn trước. Như vậy, sự giàu có về của cải vật chất là yếu tố cần thiết để duy trì cuộc sống cho tất cả con người chúng ta, nhưng nó không đủ để đảm bảo một cuộc sống hạnh phúc.

Người kỳ công nghiên cứu trong nhiều thập niên về lĩnh vực này là Easterlin. Trong một thời gian dài (từ năm 1974 đến năm 2003), Easterlin đã thực hiện 30 nghiên cứu thống kê ở 19 nước và đi đến kết luận rằng, khi những nhu cầu căn bản như ăn, mặc, ở và y tế được đáp ứng, sự giàu có không liên quan đến mức độ hạnh phúc trong cuộc sống. Kết quả các nghiên cứu này tưởng chừng khó tin đối với nhiều người trong chúng ta khi kết luận rằng sự giàu có không đảm bảo cho chủ nhân nó một đời sống hạnh phúc.

Tại sao giàu có chưa chắc đem lại hạnh phúc?

Một số nghiên cứu khác cũng đưa ra kết quả tương tự và cố gắng tìm nguyên nhân để lý giải tại sao người lắm tiền nhiều của lại không có hạnh phúc. Theo nghiên cứu của Argyle (1999), những người giàu thường có ham muốn giàu có hơn và chính lòng ham muốn ấy làm cho họ ít được hạnh phúc trọn vẹn và bền vững.

Duesenberry (1949) làm một cuộc khảo sát, lấy ý kiến trong công chúng ở Mỹ vào thập niên 40 của thế kỷ XX, kết luận rằng những người có thu nhập cao có động cơ phải có thu nhập cao hơn nữa mới có thể làm cho những người thân trong gia đình hạnh phúc. Đồng thời, họ cũng có tâm lý bất an thường trực trong tâm, khi đồng hóa chính bản thân mình với của cải vật chất và bao phủ mình với những thứ hào nhoáng bên ngoài để tạo hình ảnh giàu có trong mắt người khác.

Veblen (1967) thực hiện một nghiên cứu và kết luận rằng, người giàu có coi việc tiêu xài là một tiêu chí để xác định vị trí xã hội của mình. Vì sĩ diện, sự cạnh tranh trong mua sắm và chi xài của những người có thu nhập cao cũng tạo nên tâm lý không bình an cho những người dư ăn dư để này. Mấy thập niên sau, trong một thống kê của mình, Schor (1998) cho thấy rằng, hơn nửa dân số Mỹ, nơi số lượng người giàu có nhiều nhất thế giới, nói rằng họ không thể nào thỏa mãn được mọi thứ họ cần và họ cảm thấy không có hạnh phúc trọn vẹn vì cảm giác ‘chưa đủ’ này.

Những công trình nghiên cứu được trưng dẫn ở trên cho chúng ta một kết luận thuyết phục rằng, sự giàu có không đủ để đảm bảo một cuộc sống bình an và hạnh phúc. Với mớ của cải vật chất dù rất nhiều trong tay, người giàu vẫn không hạnh phúc. Trong khi người nghèo thiếu hạnh phúc vì các nhu cầu căn bản để duy trì sự sống chưa được thỏa mãn, người giàu, những tưởng họ hạnh phúc vì lắm tiền của, thì lại khổ vì lòng mong cầu không biết đủ.

Chính lòng ham muốn làm cho con người khổ. Đây là ‘căn bệnh’ khó chữa và nếu để tâm lý này phát triển tự nhiên, nó sẽ không có giới hạn mà ta quen gọi là “lòng tham vô đáy”. Người bị tâm tham thúc bách không thể nào nếm được hương vị hạnh phúc thật sự dù sống trên cả núi vàng. Ham muốn của con người là muôn thuở và không bao giờ được thỏa mãn và chính tâm lý ‘không thỏa mãn’ làm con người cứ mãi khổ đau và bất an. Chỉ khi nào ý thức được hạnh phúc tỷ lệ nghịch với lòng ham muốn, con người mới biết cách tạo dựng hạnh phúc cho mình.

Khéo thọ dụng để được hạnh phúc

Những kết quả nghiên cứu này hoàn toàn phù hợp với lời Đức Phật dạy cách đây hai mươi sáu thế kỷ, rằng “các dục vui ít, khổ nhiều, não nhiều, do vậy nguy hiểm càng nhiều hơn” (Trung bộ kinh số 22: Kinh ví dụ con rắn). Đức Phật dùng nhiều ví dụ rất sinh động để diễn tả sự khổ đau do tâm tham dục gây nên: ham muốn được ví như khúc xương, như miếng thịt, như bó đuốc cỏ khô, như hố than hừng, như cơn mộng, như vật dụng cho mượn, như trái cây, như lò thịt, như gậy nhọn, như đầu rắn. Sẽ không có ấn tượng nhiều nếu chúng ta chỉ đọc qua mười hình ảnh này. Tuy nhiên, khi phân tích kỹ, chúng ta thật ấn tượng đến mức nó đủ mạnh để đánh động tâm lý của mỗi người, dần nhẹ bớt và bỏ đi tham dục nếu muốn có được hạnh phúc thật sự.

- Các đối tượng của ham muốn như khúc xương: Qua sớ giải kinh Trung bộ, chúng ta hiểu hơn về cách sử dụng hình ảnh minh họa của Đức Phật. Khi dùng hình ảnh khúc xương để ví cho ham muốn, Đức Phật muốn chúng ta cảm nhận sự vô dụng, vất vả và hoài công của một con chó đói lả và suy nhược ôm gặm một khúc xương đã lóc sạch thịt, chỉ còn xương trắng, dính tí máu và bay chút mùi thịt còn sót lại. Cứ thế, con chó gặm tới, gặm lui, lật qua, lật lại khúc xương đến mệt nhoài mà không no được tí nào. Dù vậy, con chó không thể quăng đi khúc xương. Nó có một sự hấp dẫn mà con chó không dễ dàng từ bỏ. Người nhiều ham muốn cũng vậy. Bản chất của ham muốn là khổ đau chứ không phải hạnh phúc, vậy mà con người không biết buông bỏ đúng pháp để có hạnh phúc.

- Các đối tượng của ham muốn như miếng thịt: miếng thịt là đối tượng để tranh giành và là nguồn gốc của hiểm nguy, đau khổ. Khi một con chim giành được miếng thịt liền muốn giữ lấy cho riêng mình mà bay bổng lên không trung, trong khi những con chim khác cũng đang cố tìm mồi. Vì vậy, chúng đuổi theo để tranh giành miếng thịt. Chúng đánh nhau, cấu xé lẫn nhau, để được miếng mồi, bất chấp nguy hiểm, thương vong, thậm chí đổi lấy tính mạng cốt chỉ để giữ được miếng mồi và đoạt được miếng mồi. Ở con người cũng vậy, mọi tranh giành quyền lợi cá nhân cho đến chiến tranh xảy ra đều bắt nguồn từ lòng tham. Mọi xung đột với nhau, chiến tranh và chết chóc không ngừng xảy ra trên cuộc đời này khi con người còn khát vọng chiếm hữu sai lầm và ngỡ rằng nếu thành tựu, họ sẽ có hạnh phúc. An lạc, hạnh phúc chỉ có mặt trên thế giới này khi và chỉ khi con người bỏ đi quan niệm sai lầm rằng hạnh phúc có thể tìm thấy từ sự chiếm hữu và sở hữu vật chất, cũng như con chim chỉ được yên thân khi nó vứt bỏ được miếng mồi kia, đó là thông điệp của Đức Phật trao gởi qua ẩn dụ này.

- Các đối tượng của ham muốn như bó đuốc cỏ khô: cỏ khô là vật liệu rất dễ gây cháy, bắt lửa mạnh. Một người cầm bó đuốc cỏ đang cháy rực mà đi ngược gió thì rất là nguy hiểm, lửa sẽ tạt vào phía mình và người ấy đã bị cháy tay, cháy mặt và các bộ phận khác, bỏng nặng và có thể dẫn đến tử vong. Người không có trí tuệ, tham đắm dục lạc cũng như vậy, tự rước họa vào mình, đến khi nhận ra vấn đề thì đã quá trễ.

- Các đối tượng của ham muốn như hố than hừng: Ẩn dụ này được giải thích tỉ mỉ ở kinh số 75: kinhMagandiya của Trung bộ kinh, rằng có một người bị bệnh cùi thân thể lở lói, các loài trùng đục khoét các vết thương. Để dịu đi cơn ngứa, người này hơ đốt thân mình trên hố than hừng cháy, nhờ đó cảm thấy dễ chịu, thỏa thích, đã ngứa. Tuy nhiên vì nguyên nhân ấy mà các vết thương càng đau nhức, càng lở lói và không thể nào lành được, bệnh tình người ấy sẽ trở nên trầm trọng suýt chết và cũng có thể dẫn đến cái chết. Sự thỏa thích dễ chịu nhờ hố than hừng như vậy đã đồng nghĩa với sự hiểm nguy. Người lòng nhiều ham muốn thì “càng thâu càng đắm, càng làm càng say” (Ni trưởng Huỳnh Liên- Thân) mà không hề ý thức được đó là nguồn gốc của khổ đau.

- Các đối tượng ham muốn như giấc mộng: những gì ta thấy trong mơ thường đẹp đẽ, lung linh, khi thức giấc thì thực tế không còn gì. Ham muốn vật chất chẳng khác nào chơi trò cút bắt và cái ta được là cái bóng của hạnh phúc cứ vờn trước mặt, còn mình thì mệt nhoài và cái kết là đắng cay đau khổ.

- Các đối tượng ham muốn như vật mượn xài: vật đi mượn để dùng xài rồi phải trả, khi trả xong, không còn gì là của mình. Nếu ai lầm chấp vật mượn là của mình, sẽ hụt hẫng, khổ đau. Nếu chấp vật chất thế gian là của mình, một khi vô thường biến hoại diễn ra, ta chịu nhiều đau khổ, căng thẳng, bất an và sầu muộn.

- Các đối tượng ham muốn như trái cây: trái cây thu hút nhiều người đến, thế là họ thi nhau hái bằng mọi cách, rồi họ mang theo cả rựa, búa chặt luôn cả cây để hái được nhiều trái, rồi nhánh cây, gốc cây bật đè bị thương, gãy tay gãy chân, có khi đến chết. Sự ham muốn trái cây không hề đem lại cho người ham muốn chút an ổn nào cả. Người đam mê dục lạc cũng tự chuốc lấy nguy hiểm, bất an và đau khổ.

- Các đối tượng ham muốn như lò thịt: nơi lò thịt, bao con vật bị kết liễu cuộc đời mà trước đó chúng không hề được báo trước. Những con vật sắp vào lò vẫn vui với những hạt lúa, hạt bắp, hay bữa ăn rau cám mà không biết khi nào mạng sống mình bị đoạt mất. Con người trong cuộc đời này cũng thế, đam mê dục lạc đến mức không hề hay biết vô thường không hẹn trước. Khi đối mặt với cái chết thì mọi thứ quá muộn màng, chút niềm vui tạm bợ mong manh do dục lạc đem lại không đủ giúp chúng ta vượt qua khổ đau của một kiếp người.

- Các đối tượng ham muốn như gậy nhọn: cây gậy nhọn có nhiều tác dụng trong cuộc sống, thế nhưng nếu không cẩn thận, sơ sẩy một tí thì chính chiếc gậy đó trở lại gây họa cho mình, ví như sử dụng xà beng, càng bén càng dễ đào đất nhưng gây thương tích càng nguy hiểm nếu bất cẩn. Khi thọ dụng các món vật chất, cần thận trọng nếu không muốn chuốc lấy khổ đau lâu dài vì chúng nguy hiểm như gậy nhọn.

- Các đối tượng ham muốn như đầu rắn: ví dụ này được giải thích rất kỹ trong chính bài kinh này. Một người nông dân tìm bắt con rắn nước, do không bắt ở đầu mà bắt ở đuôi hay ở thân giữa nên bị con rắn nước cắn lại người đó đến nỗi bị thương, và có thể nguy hiểm đến tính mạng. Chính vì bắt rắn không đúng phương pháp mà dẫn đến điều đáng tiếc trên. Dụ này dùng để chỉ cho việc thọ dụng dục lạc cần phải có một lập trường, một phong thái, một phương pháp đúng đắn mới không bị dục lạc nắm lấy vị trí làm chủ quay lại hại mình.

Những ví dụ điển hình trên đây cho ta ý niệm rằng, chúng ta vẫn có thể sử dụng những món vật chất thế gian khi có nhu cầu, nhưng cần phải chánh niệm đừng để tâm tham dục trỗi dậy, điều động và chi phối, mà chỉ xem đó chỉ là phương tiện để nuôi thân, để bảo dưỡng tâm và có đủ điều kiện để tiến bộ trên con đường trau giồi tâm linh. Sau mỗi ví dụ, Đức Phật đều nhấn mạnh rằng “do vậy, các dục vui ít, khổ nhiều, não nhiều, sự nguy hiểm còn nhiều hơn” để mỗi hành giả khắc ghi điều này trong cuộc sống khi thọ dụng các phương tiện đáp ứng nhu cầu của con người mà vẫn thong dong tự tại. Hạnh phúc không phải do từ bên ngoài đi vào mà được chiết xuất từ bên trong mỗi con người vậy.

Hạnh phúc đích thực đến từ nội tâm

Trong cuộc sống, cái mà con người thực sự cần là hạnh phúc, chứ không phải tài sản. Hạnh phúc là một cảm nhận hoàn toàn chủ quan, được thể hiện qua sự hài lòng, thanh thản, bình yên, chứ không cần quá nhiều tiền bạc vật chất bên ngoài. Để có hạnh phúc, chúng ta cần một đời sống tâm linh phong phú để biết điều phục tâm, tiết chế trong các ham muốn phàm tình, để khi thọ dụng vật chất, không để tâm dính mắc. Đức Phật dạy, không thể tìm thấy hạnh phúc từ lợi dưỡng thế gian mà hạnh phúc ở ngay trong tâm mỗi con người:

Khó nắm giữ, khinh động,

Theo các dục quay cuồng.

Lành thay, điều phục tâm,

Tâm điều, an lạc đến.

(Pháp cú câu 35)

Ai sớm nhận ra điều này thì ngay lúc ấy, họ nắm giữ chìa khóa để mở cánh cửa hạnh phúc đời mình.

Trên quan điểm này, người dân xứ Bhutan, một đất nước chịu ảnh hưởng sâu sắc truyền thống Phật giáo, thay vì coi GNP (tổng thu nhập quốc gia) là tiêu chí, đã đánh giá sự phát triển của đất nước này bằng một tiêu chí khác là GNH (tổng hạnh phúc quốc gia). Người Bhutan quan niệm rằng một đất nước phát triển là một nước mà người dân có được hạnh phúc. Ý niệm này đã có mặt trên đất nước Bhutan nhỏ bé từ nhiều thế kỷ trước, nhưng phát triển ý tưởng này thành khái niệm ‘tổng hạnh phúc quốc gia’ là sáng kiến của vua Jigme Singye Wangchuck vào năm 1972.

Khái niệm ‘hạnh phúc’ này được thẩm định trên các yếu tố khách quan và chủ quan, căn cứ trên bốn lãnh vực gồm (i) sự phát triển kinh tế xã hội, (ii) kế thừa và phát huy truyền thống văn hóa dân tộc, (iii) tôn trọng tất cả các sinh vật, bảo vệ và sống thân thiện với môi trường, và (iv) tổ chức quản lý xã hội để đảm bảo sức khỏe và tuổi thọ cá nhân. Chỉ khi nào có sự phát triển cân đối hài hòa bốn yếu tố này trong cuộc sống, con người mới có được hạnh phúc thật sự và bền vững. Như vậy, sự phát triển kinh tế xã hội, với người dân Bhutan, chỉ là một trong bốn tiêu chí của một cuộc sống hạnh phúc. Giàu có, với họ, vẫn chưa đảm bảo cuộc sống hạnh phúc cho từng cá nhân cũng như cho quốc gia.

Thấm nhuần triết lý Phật giáo trong nếp nghĩ và cách sống của mình, người Bhutan đã có ý thức rất rõ việc bảo vệ và phát triển đất nước nhỏ bé xinh đẹp của họ theo một tiêu chí toàn diện, đa phương bao gồm nhiều phương diện trong cuộc sống chứ không chỉ phát triển kinh tế. Do đó, mặc dù người dân Bhutan còn nghèo về vật chất, họ hài lòng với một cuộc sống mà quan niệm hạnh phúc không chỉ đo lường bằng kinh tế. Mặc dù khổ đau luôn tồn tại ở nhiều hình thức và mức độ khác nhau như là một phần của cuộc sống, người dân Bhutan tìm hạnh phúc trong cuộc sống hài hòa giữa nội tâm và ngoại cảnh, giữa kinh tế, xã hội và văn hóa tâm linh.

HP.jpg
Tại sao chúng ta lại không áp dụng tinh thần đạo Phật để cuộc sống thêm ý nghĩa và thanh thoát hơn?

Ở phạm vi cá nhân, mỗi người đều có thể kiến tạo cho mình một cuộc sống hạnh phúc trên cơ sở bốn tiêu chí nêu trên của người Bhutan. Từ kết quả nghiên cứu và thực tế ở đất nước Bhutan, chúng ta có thể nói rằng, khi tâm con người hướng ngoại với tham vọng chinh phục, hạnh phúc xa vời tầm tay dù giàu có.

Ngược lại, khi biết hướng vào nội tâm, lấy đời sống tâm linh làm nền tảng để điều chỉnh những ham muốn của mình, biết hài lòng với những gì họ đang có và nối nhịp cầu hài hòa giữa con người và môi trường thiên nhiên cũng như môi trường văn hóa xã hội, họ có thể tạo dựng cuộc sống hạnh phúc lâu dài. Giáo lý Phật giáo về nhân quả, duyên sinh và vô thường đã giúp chúng ta hiểu rằng, để có được hạnh phúc thật sự, con người cần phải quay về với bản tâm của mình để có sự bình an nội tại và đặt mình trong mối tương duyên với tất cả các sự vật hiện tượng bên ngoài.

Kiến tạo hạnh phúc đích thực

Khái niệm hạnh phúc của người Bhutan giúp chúng ta suy nghĩ lại rằng, khi người ta đồng hóa hạnh phúc với của cải vật chất và cố công đi tìm thứ hạnh phúc ấy thì oái oăm thay, càng tìm kiếm, hạnh phúc càng xa vời. Nhiều người giàu có, nếu chịu khó suy nghĩ, trong những thăng trầm của cuộc đời, sẽ thấm thía nỗi đau nhân thế và cảm nhận sâu sắc những bất hạnh của người giàu. Có khi tự nghiệm bản thân cùng những mối quan hệ xã hội xung quanh, người trong cuộc cũng có thể nhận ra sự khổ đau và bất hạnh lồ lộ ngay khi vầng hào quang của tiền bạc danh vọng vẫn còn đang tỏa sáng.

Cuộc sống hiện tại đang thay đổi quá nhanh, xu hướng chuộng vật chất như là một trào lưu đang tạo ra những hiểm họa khôn lường mà toàn xã hội đã và đang lên tiếng báo động. Với con người, kinh tế và văn hóa đều cần thiết như hai cánh của một con chim. Chim muốn bay xa và an toàn thì cần cả hai cánh, người muốn hoàn thiện và hạnh phúc không chỉ phát triển kinh tế mà cần phát triển văn hóa, nhất là văn hóa tâm linh. Mỗi cá nhân đều chịu trách nhiệm như một kiến trúc sư của chính cuộc đời mình để trọn quyền quyết định hạnh phúc hay khổ đau cho bản thân.

Người Bhutan đã biết sống theo triết lý đạo Phật để được hạnh phúc, dù họ chưa giàu có về kinh tế. Tại sao chúng ta lại không áp dụng tinh thần đạo Phật để cuộc sống thêm ý nghĩa và thanh thoát hơn?

Lần cập nhật cuối ( Thứ năm, 11 Tháng 1 2018 19:19 )
 

TÁCH CÀ PHÊ CUỘC ĐỜI

Email In
Share


Một nhóm sinh viên, sau khi tốt nghiệp ra trường đều có công việc tốt, rủ nhau về thăm thầy giáo cũ. Sau một hồi trò chuyện, họ bắt đầu phàn nàn về những căng thẳng trong công việc cũng như cuộc sống.

Nghe vậy, thầy đi vào bếp và quay trở ra với một bình cà phê lớn cùng những chiếc tách khác nhau. Chiếc bằng sứ, chiếc bằng nhựa, chiếc thuỷ tinh, chiếc bằng pha lê, có vài chiếc tách trông rất đơn giản, nhưng cũng có cái rất đắt tiền. Người thầy bảo các học trò tự chọn tách và rót cà phê cho mình. Sau khi mỗi người đều đã có một tách cà phê, ông bắt đầu nói:

- “Nếu chú ý, các em sẽ nhận ra điều này. Những chiếc tách đắt tiền và đẹp đều được lấy hết, chẳng ai đụng đến những chiếc tách rẻ tiền cả. Điều này thật bình thường vì ai chẳng muốn chọn cho mình cái tốt nhất, nhưng điều ấy lại chính là nguồn gốc của mọi vấn đề rắc rối trong cuộc sống của các em.

Điều mà chúng ta thực sự cần là cà phê, chứ không phải chiếc tách, nhưng ai cũng vội vàng chọn những chiếc tách tốt nhất, rồi sau đó liếc mắt qua người bên cạnh để xem tách của họ có đẹp hơn tách của mình không.

Bây giờ mọi người hãy suy ngẫm điều này nhé!

Cuộc sống chính là cà phê, còn công việc, tiền bạc và địa vị xã hội chính là những chiếc tách. 
Chúng là công cụ để giữ và chứa đựng cuộc sống, và không làm thay đổi chất lượng cuộc sống chúng ta. Đôi khi, vì chúng ta cứ tập trung vào ‘chiếc tách’, và bỏ qua việc thưởng thức hương vị cà phê mà cuộc sống tặng cho chúng ta”.

- Người hạnh phúc nhất không phải là người có tất cả những thứ tốt nhất. Họ chỉ trân trọng mọi thứ mà họ có.

Hãy sống đơn giản
Trao yêu thương
Quan tâm sâu sắc 
Và nói những lời đẹp đẽ.

Lần cập nhật cuối ( Thứ năm, 11 Tháng 1 2018 20:02 )
 

Giáo dục tư tưởng Tứ ân cho lớp trẻ

Email In
Share


Nhìn vào đời sống đạo đức hiện nay của xã hội Việt Nam, thấy không khỏi băn khoăn. Bên cạnh những gì làm được (dù rất khiêm tốn) thì khắp nơi còn đầy dẫy những hiện tượng vi phạm vào cả lối sống và đạo đức, mà chung quy là vi phạm vào cái nhân tâm của con người. Hiện trạng này, chắc không cần phải dẫn chứng thêm, bởi vì nó được các phương tiện thông tin đại chúng đăng tải, nêu rất nhiều về những khía cạnh biểu hiện của nó. Hiện tượng vi phạm vào những chuẩn mực đạo đức cơ bản nhiều đến nỗi chỉ cần căn cứ vào đó, cũng đủ cho phép người ta khái quát để tìm ra những nguyên nhân và thực chất của chúng. Thậm chí, những hiện tượng tiêu cực bất thành văn chúng còn trở thành “triết lý sống” cho không ít loại người hư hỏng.

Từ hiện trạng bức xúc như thế, đã đến lúc chúng ta phải khai thác trong tư tưởng Tứ ân của Phật giáo để giáo dục đạo đức cho lớp trẻ.

Tứ ân là bốn ơn mà con người phải nhớ đến, phải trả. Nội dung của tứ ân trải rộng từ đạo đức gia đình đến đạo đức quốc gia và xã hội. Tuy các kinh sách, các tài liệu nghiên cứu của Phật giáo có giải thích về Tứ ân khác nhau đôi chỗ, nhưng chung quy thì ơn là ơn con người, ơn con vật, ơn xã hội, chứ không phải là ơn thần thánh, hoặc Thượng đế.

Tứ ân hay Tứ trọng ân là một trong những giáo lý quan trọng của Phật giáo. Trước hết, người Phật tử, vâng lời Phật dạy, luôn nêu cao tinh thần tri ân và báo ân trong đời sống tu tập hàng ngày. Đây cũng là mối quan hệ hai chiều sòng phẳng, bởi vì “cây có cội, nước có nguồn” nên chẳng thể lãng quên, mà phải lo để báo đáp. Trong Đại thừa bổn sanh tâm địa quán báo ân phẩm , nội dung của Tứ ân là ơn cha mẹ, ơn chúng sanh, ơn quốc vương, ơn Tam bảo (Phật, Pháp, Tăng), được khái lược như sau:

1. Ơn cha mẹ

Vì mẹ chín tháng cưu mang, mất ăn mất ngủ. Còn cha chạy ngược chạy xuôi, lo lắng mọi thứ để chu toàn cho mẹ con, hồi hộp mong cho mẹ tròn con vuông, bởi mọi điều không may cho cả hai có thể xảy ra bất cứ lúc nào khi mẹ lâm bồn. Cha mẹ sanh đẻ nuôi nấng ta rất cực nhọc cho đến lớn khôn. Vậy ta phải báo đáp bằng sự cung kính, vâng lời, phụng dưỡng cha mẹ lúc tuổi già, khi cha mẹ mất còn phải thờ cúng và cầu cho cha mẹ mau giải thoát. Đây cũng là một điểm đặc trưng về đạo đức của phương Đông, nó hơi khác với phương Tây dạy người ta rằng, cha mẹ chỉ là người sinh ra, nuôi ta đến 18 tuổi thôi. Chỗ này, một điều thực tế cũng có thể thấy rằng, cha mẹ không những chỉ chăm bẵm lúc ta còn nhỏ, mà còn theo dõi từng bước đi, những điều may rủi của ta trên đường đời, kể cả khi con cái trưởng thành.

Phải nói rằng, người thầy đầu tiên của đời người chính là người mẹ. Người mẹ bắt đầu dạy con quan hệ xã hội từ những câu chào hỏi đơn giản, cho đến cách ứng nhân xử thế ở đời, chung quy là dạy con bắt đầu giao tiếp. Lớn thêm một chút nữa mới đến vai trò thực sự của người cha. Đó là nói ở góc độ bình thường. Mỗi khi con đau ốm thì thậm chí cha mẹ quên ăn bỏ ngủ quanh quẩn bên giường bệnh để lo săn sóc thuốc thang. Đến khi khôn lớn, cha mẹ phải lo dạy dỗ để con đủ tư cách làm người và cái này nó đi theo suốt cuộc đời của con. Đây là một điều rất rõ ràng, cho nên cha có cái Từ ân và mẹ có cái Bi ân.

Tuy nhiên, Phật giáo có khía cạnh khác Nho giáo ở chỗ: mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái là mối quan hệ hai chiều, sòng phẳng - cha mẹ có nghĩa vụ, trách nhiệm với con cái và con cái có nghĩa vụ, trách nhiệm với cha mẹ. Từ Hán Nho (Đổng Trọng Thư) trở về sau, tư tưởng trên càng không thể có được. Trong kinh Thiện Sinh, Phật có dạy rằng: “Người con phải có năm điều thờ kính, phụng dưỡng cha mẹ. Năm điều đó là gì? Một là tăng thêm của cải. Hai là cáng đáng mọi việc. Ba là dâng lên cha mẹ những gì người muốn. Bốn là không tự tác, không trái ý. Năm là tất cả những vật riêng của mình đều dâng hết cha mẹ. Người con làm năm việc như trên để phụng dưỡng cha mẹ.

Cha mẹ cũng lấy năm việc để chăm sóc các con. Năm việc đó là gì? Một là thương yêu con cái. Hai là cung cấp không thiếu. Ba là khiến con không mang nợ. Bốn là gả cưới xứng đáng. Năm là cha mẹ có của cải vừa ý đều giao hết cho con. Cha mẹ bằng năm điều ấy mà chăm sóc các con” .

Kinh Thi ca la việt (Sìgalovàda Sùttra), Phật cũng dạy tương tự như vậy. Một điểm chú ý ở đây là: theo Phật, lòng yêu thương giữa cha mẹ và con cái còn phải có nghĩa vụ là khuyên ngăn nhau không được đi vào con đường tà.

2. Ơn chúng sanh

Một điểm rất lý thú và đặc sắc để Phật dạy ta phản biết ơn chúng sanh là ở chỗ: từ vô thủy đến nay, chúng sanh trôi lăn trong biển luân hồi, trong mối quan hệ trùng trùng, lớp lớp rất phức tạp như vậy, chúng ta đã từng là ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con cái …, nói chung là quan hệ ruột thịt với nhau. Một mặt, chúng sanh, theo tư tưởng của Phật giáo lại rất rộng, bao gồm 3 cõi Dục giới, Sắc giới và Vô sắc giới (hay còn khía cạnh khác là siêu sắc giới).

Chẳng hạn, ngay như Pháp thân Phật thì chỉ có các Đại Bồ-tát mới nhìn thấy. Nếu theo tư tưởng đó để mà suy thì chỉ nói ngay chúng sanh ở cõi Dục giới, xem chừng ngày nay khoa học cũng chưa biết hết! Cái mối quan hệ tầng tầng, lớp lớp, chằng chịt như Phạm võng, chỉ có điều là ta vừa không nhớ, vừa chạy theo ngũ dục, rong ruổi lục trần, bị vô minh che lấp mà thành kết quả như ngày nay. Tư tưởng này, trong các bài pháp âm, các vị giảng sư cũng đã đề cập rất nhiều. Người ta gặp nhau ở đời hiện tại là do có duyên nợ với nhau. Theo tư tưởng này, phải nói rằng: nếu không có duyên nợ với nhau thì không thể gặp nhau được!

Từ đó, ơn chúng sanh là có cơ sở, đồng thời mình báo đáp ơn chúng sanh bằng cách cơ bản là: vừa không gây hại cho họ (nhất là sát sanh), vừa phải siêng năng học tập để tự giác ngộ và giác tha, cầu cho mình và chúng sanh đều được giải thoát.

3. Ơn quốc vương

Theo thuyết Nghiệp của Phật giáo, trước tiên phải công nhận quốc vương là người có phúc đức, hay là diễm phúc thắng phần hơn giữa các dân chúng. Quốc vương tuy sanh ở nhân gian, nhưng là người cai quản nhân gian cả về đất đai và con người. Cũng vì đặc điểm này, không ít các hệ tư tưởng cho quốc vương là do Trời sanh. Nhờ những vị có công xây dựng nước nhà, mở mang các ngành công nghệ…, dẹp trừ những tệ nạn trong xã hội và chiến tranh, đem lại thanh bình cho đất nước, cho nên dân chúng mới được an vui, quốc gia thái bình và thịnh vượng.

Tuy nhiên, quốc vương ở đây còn phải là người theo Thập vương pháp, sửa mình để sửa người, cai trị cho công minh, chính trực. Quốc vương, nếu mở rộng ra là những người có trọng trách trong một cơ quan, đơn vị …, cần phải có Thập vương pháp, lấy Thập vương pháp để cai trị. Nếu người đứng đầu, cai trị mà tâm địa hẹp hòi, đố kỵ, tư lợi, thiên vị, sống không công bằng, hưởng lạc, trác táng, nói chung là hư hỏng thì đó là một mối nguy hại.

Có một điều thực tế cho thấy là, trong thâm tâm người ta cũng biết những điều phải trái, đúng sai, nhưng bên ngoài vì quyền lợi, vì muốn yên thân, vì miếng cơm manh áo ở đời nên người ta phải theo, nhưng khẩu phục, tâm bất phục. Đây là mối nguy hại tiềm tàng cho người đứng đầu, mà trước sau, nó sẽ bộc lộ ra bằng thân, khẩu, ý. Đó là điều đáng để các cấp công quyền suy ngẫm. Do vậy, cách trả ơn tốt nhất cho quốc vương là ta phải sống tốt để có một xã hội thiện lành; chăm lo học tập, tu hành nghiêm chỉnh, tinh tấn để đóng góp xứng đáng cho dân tộc, xã hội và quốc gia. Đây cũng là cách tế độ cho quốc vương tốt nhất.

4. Ơn Tam bảo

Tam bảo ở đây là Phật, Pháp, Tăng. Lấy ngay bản thân Đức Phật, từ hoài bão lớn là muốn cứu độ chúng sanh ra khỏi biển khổ, nên Ngài bỏ lại đằng sau tất cả để xuất gia tìm đạo. Sau khi đắc đạo, chỉ tính ở cõi nhân gian, Ngài vân du dọc sông Hằng thuyết pháp giáo hóa chúng sanh để Chánh pháp được trường tồn. Nói về hoài bão cao cả này, Phật tuyên bố với A-tu-la (Asùrà) Pahàràda, được coi như lời tuyên bố chung, đồng thời như là một tôn chỉ: “Ví như này, Pahàràda, nước biển lớn chỉ có một vị là vị mặn. Cũng vậy, này Pahàràda, Pháp và Luật này cũng chỉ có một vị là vị giải thoát” .

Thực ra, sự sống của con người là đáng quý, nhưng cái quý hơn lại là ý nghĩa của nó. Về thân người có được, Phật đã nói rõ trong kinh Hiền ngu chuyện con rùa mù đi tìm bọng cây trôi trên biển trong giông bão. Qua ví dụ này, để nói rõ về cái khó trở lại làm người, Phật kết luận: “Còn mau hơn này các Tỷ-kheo, con rùa mù ấy có thể chui cổ vào khúc cây có lỗ hổng kia; nhưng này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố rằng còn khó hơn được làm người trở lại, một khi người ngu bị rơi vào đọa xứ” .

Phật đã từng tuyên bố ở đời có bốn cái khó: “Được sinh làm người là khó, được sống còn khó hơn, được nghe Chánh pháp là khó, được gặp Phật ra đời là khó” .

Nói về ý nghĩa tột cùng của cuộc sống, trong kinh Pháp cú, Phật đã chỉ rõ: “Sống trăm tuổi, mà không thấy pháp tối thượng, chẳng bằng sống chỉ một ngày mà thấy pháp tối thượng” .

Rõ ràng, cái hoài bão cũng là điều may mắn cao cả tột cùng ấy của chúng sanh phải nhờ vào sự dìu dắt của Phật, Pháp, Tăng. Như vậy, công lao của Tam bảo không gì có thể so sánh được. Nhờ Tam bảo mà ta hiểu được đạo lý và phương pháp tu hành để diệt khổ, bởi vì thâu tóm, đạo Phật chỉ ra cái khổ, nguyên nhân cái khổ và con đường diệt khổ, để đạt hạnh phúc, an vui. Nói về niềm an vui mỹ mãn, Phật đã chỉ ra: “Hạnh phúc thay Đức Phật ra đời, hạnh phúc thay diễn nói Chánh pháp; hạnh phúc thay chúng Tăng hòa hợp, hạnh phúc thay dõng tiến đồng tu” .

Tứ ân là phạm trù đạo đức xác định cái tình nghĩa của con người. Vấn đề này, nếu nói theo tinh thần Nho giáo thì người làm ơn đừng bao giờ kể ơn mới là người Nhân, người mang ơn đừng bao giờ quên ơn mới là người Nghĩa. Tư tưởng Tứ ân được dàn trải trong mối quan hệ giữa người và người, giữa người và vật để chuyển tải cái thiện theo tinh thần Phật giáo. Rõ ràng, đây là một điều hiển nhiên trong cuộc sống, nó mang tính khách quan, nằm trong Pháp, cho nên Phật đã từng tuyên bố: Nếu Như Lai ra đời hay không ra đời thì Pháp vẫn vậy.

Ngày nay, những hệ tư tưởng gần Phật giáo như Cao Đài, Hòa Hảo …, dù khác nhau đôi chỗ, nhưng cũng chuyển tải nội dung của Tứ ân để giáo dục về đạo đức cho con người. Qua đó, ta rút ra một nhận xét rằng: những điều hiển nhiên trong cuộc sống, mang tính khách quan thì những tư tưởng lớn phản ánh về nó thường gặp nhau ở những điểm cơ bản. Nếu xét về mặt lịch sử, thì những tư tưởng đó bị ảnh hưởng Phật giáo.

Như vậy, đối với dân chúng, bất kể sang hèn, khác nhau về tôn giáo, đảng phái, nhưng đã sống ở đời thì phải biết bốn ân và tìm tất cả phương tiện để đền trả. Riêng đối với người Phật tử, suy cho kỹ, chúng ta có một hạnh phúc lớn ở đời. Đó là, tuy tiếng là không gặp Phật, nhưng có thể nói, các Tăng Ni ngày đêm đang tích cực hoằng pháp, thì đó chính là các vị Bồ-tát thị hiện để chuyển tải giáo lý của nhà Phật. Mặt khác, Phật - Pháp - Tăng, tuy ba mà một. Cái này, Phật đã tuyên bố nhiều lần. Theo ý nghĩa nhất định, phải nói rằng ta vẫn thường xuyên gặp Phật, Phật vẫn ở bên ta!

Tóm lại, trải qua hơn 2.500 năm ra đời, Phật giáo vẫn luôn luôn mới, đã để lại cho lịch sử văn minh nhân loại một hệ thống giáo lý cao siêu, sâu rộng, được xây dựng từ các bộ phận, các phạm trù đan xen với nhau rất chặt chẽ và lung linh với phép biện chứng phương Đông. Tất cả hệ thống ấy đều nhằm giải thoát cho con người cả thân, khẩu, ý. Trên cơ sở đó, Phật giáo cũng để lại cho nền văn minh nhân loại một nền đạo đức nhân bản lớn, cao đẹp, toàn vẹn, thích hợp với từng tầng lớp, mọi hoàn cảnh và từng lứa tuổi, mà Tứ ân chỉ là một bộ phận. Đạo đức Phật giáo đã cung cấp cho đạo đức học những chuẩn mực rõ ràng, cụ thể, mà chuẩn mực nào cũng hàm chứa tinh thần đại bi, đại trí, đại hùng, đại lực, mang sinh khí hòa bình, tự do, bình đẳng cùng với hoài bão giải phóng cho con người và chúng sanh.

Do vậy, việc giáo dục Tứ ân nói riêng và đạo đức Phật giáo nói chung, đã thực sự cần thiết, nhất là trong giai đoạn hiện nay. Đã đến lúc cần phải gióng lên một hồi chuông cảnh báo về đời sống đạo đức, đồng thời trước mắt, trong các dịp Vu lan, cần lấy tư tưởng Tứ ân để giáo dục, chỉ cho thế hệ trẻ cái tình nghĩa cơ bản ở đời!

Tiến sĩ TẠ CHÍ HỒNG

(Đại học Đà Lạt)

Lần cập nhật cuối ( Thứ năm, 11 Tháng 1 2018 20:04 )
 
Trang 8 trong tổng số 8 trang.
Bạn đang ở: Trang chủ Tuổi Trẻ - Tình Yêu Và Lý Tưởng