Bình chọn

Bạn biết đến Chùa Tự Tâm thông qua phương tiện nào?
 

Hình ảnh

  • 1256530_497479667013867_1014200401_n.jpg
  • 1289834_496972933731207_2129934441_n.jpg
  • 1305453_496972930397874_502961374_n.jpg
  • 1369081_496971993731301_1220368879_n.jpg
  • 1371508_496971997064634_1116290538_n.jpg
  • 1374406_496972943731206_2081264957_n.jpg
  • 1375658_497479367013897_1781351274_n.jpg
  • 1376863_496972950397872_816092381_n.jpg
  • 1377041_497480443680456_1164263196_n.jpg
  • 1377338_497480140347153_1549967075_n.jpg
  • img_3463.jpg
  • img_3493.jpg
  • img_3507.jpg
  • img_3521.jpg
  • img_4232.jpg
  • img_4240.jpg
  • img_4248.jpg
  • img_4346.jpg
  • img_4383.jpg
  • img_4427.jpg

Thông tin liên hệ

  • - Địa chỉ: Hẻm 426 đường Phan Bội Châu, tổ 17 khối 2, phường Thành Nhất, Tp Ban Mê Thuột, ĐăkLăk, Việt Nam
  • - Sư cô Thích Nữ Liên Tâm
  • - Email: chuatutam@gmail.com

Lịch Âm Dương

Thống kê truy cập

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay136
mod_vvisit_counterHôm qua809
mod_vvisit_counterTuần này3550
mod_vvisit_counterTuần trước4220
mod_vvisit_counterTháng này15935
mod_vvisit_counterTháng trước20438
mod_vvisit_counterTất cả1454899

Có: 79 khách trực tuyến

Tuổi Trẻ - Tình Yêu Và Lý Tưởng

Đức Phật Dạy Sáu Pháp Thuận Hòa Giúp Cuộc Sống Hôn Nhân Bền Vững

Email In
Share
Phật dạy 3 ’điểm vàng’ giúp hôn nhân trăm năm bền vững

Phật dạy rằng không phải Duyên nợ - Nghiệp... thì sẽ không gặp nhau và vợ chồng chính là Duyên nợ từ kiếp trước của nhau. Bát đũa còn có lúc khua kêu thành tiếng, vì thế hôn nhân gia đình không phải khi nào cũng êm đẹp, cũng có những lúc xảy ra bất hòa.

Hôn nhân chính là sự mở đầu tiến trình thể hiện tâm tưởng "đồng thuận" trong đời sống lứa đôi, nghĩa là sự gặp gỡ đồng cảm giữa hai tâm hồn yêu mến nhau, quyết tâm cùng nhau xây dựng mái ấm hạnh phúc gia đình.

Tâm tưởng đồng thuận càng được thể hiện thì hạnh phúc hôn nhân càng thêm sâu bền. Dân gian có câu nói: "Đồng vợ đồng chồng (hay thuận vợ thuận chồng) tát biển Đông cũng cạn”, ngụ ý sự hòa hợp giữa hai tâm hồn yêu nhau tạo nên sức mạnh, có khả năng vượt qua mọi gian nan thử thách trong đời sống hôn nhân gia đình. Ông bà xưa từng dạy: "Cơm sôi nhỏ lửa - đời nào nó khê"; chứ không thể "Nước dâng thì bèo nổi" - hai người không biết chung sống nhường nhịn nhau, không thể hai người cùng nóng... cùng một lúc; một người "nóng" thì người kia phải khéo léo "Nguội"...

Từ việc nhỏ cho tới việc lớn mà cả hai, vợ và chồng, đều đồng tâm hiệp lực thực hiện thì kết quả sẽ vẹn toàn. Giả dụ, sự nỗ lực nào đó chưa đạt kết quả như mong muốn, thậm chí có thất bại đi chăng nữa, thì cả hai tâm hồn cũng biết cách vỗ về an ủi cho nhau mà không hề ngã lòng. Nói khác đi, không hề có cảm giác thất bại khi cả hai tâm hồn biết yêu thương, luôn luôn quan tâm chăm sóc đỡ đần cho nhau.

Trong việc giữ gìn hạnh phúc hôn nhân, thay đổi thái độ chính là mấu chốt của vấn đề. Mỗi khi vợ chồng bất hòa, hãy thử kiểm điểm lại bản thân, xem mình có ích kỷ không, có chân thành không, có tôn trọng đối phương không? Cùng nhau trải qua sóng gió cuộc đời không chỉ cần tình yêu, mà còn bao gồm thấu hiểu, nhường nhịn và duyên phận.

Dưới đây là những lời Phật dạy về Lục hòa - tức sáu pháp chung sống thuận hòa để giúp hôn nhân trăm năm bền vững.

I. ĐỊNH NGHĨA

1. Tai hại của sự bất hòa

Trong sự sống chung đụng hằng ngày, không có gì tai hại bằng sự bất hòa. Sự bất hòa làm ung độc cuộc sống chung và bắt buộc người ta phải xa nhau, nếu không muốn ở gần nhau để làm khổ cho nhau.

Trong gia đình, anh em không hòa thì tình cốt nhục chia ly. Vợ chồng không hòa thì gia nghiệp chẳng thành, con cái phải bị đau khổ, vì gần cha thì phải xa mẹ, gần mẹ thì phải xa cha. Xóm làng không hòa thì hay sinh ra rầy rà, kiện cáo, chém giết lẫn nhau. Quốc gia không hòa thì sinh ra giặt giã loạn lạc, dân chúng khổ sở. Nhân loại bất hòa thì chiến tranh tiếp diễn, nhân sinh điêu đứng, suy tàn.

2. Sự quan trọng của nhu hòa

Đã thấy sự bất hòa như thế nào, tất nhiên cũng phải thấy đức tánh nhu hòa là cần thiết như thế nào cho đời sống tập thể.

Chúng ta thường nghe nói: "Dĩ hòa vi qúi" (lấy hòa làm quý). Bốn chữ giản dị ấy có một công dụng ích lợi vô cùng. Những ai lấy nó làm phương châm, thì bất luận việc lớn việc nhỏ đều thành tựu dễ dàng. Trái lại, những ai khinh thường nó, thì công việc chung không bao giờ có kết quả.

Sách Nho cũng có nói: "Thời thế thuận, không bằng địa thế lợi; địa thế lợi, không bằng nhân tâm hòa" (Thiên thời bất như địa lợi, địa lợi bất như nhân hòa). Xem thế thì đủ biết: yếu tố hòa là quan trọng hơn hết trong mọi việc, mọi tổ chức. Gia đình hòa thì gia đình có hạnh phúc; nước nhà hòa thì nước nhà được thạnh trị; nhơn loại hòa thì thế giới an lạc.

Hiểu biết hơn ai hết sự quan trọng của đức tánh nhu hòa trong đời sống tập thể, đức Phật đã chế ra pháp "Lục hòa" cho hàng Phật tử.

Lục hòa là sáu phương pháp cư xử với nhau cho hòa hợp từ vật chất đến tinh thần, từ lời nói đến việc làm. Hòa ở đây là hòa với mục đích tiến tới sự cao đẹp, đến con đường giải thoát, toàn thiện toàn mỹ, chứ không phải hòa một cách nhu nhược, thụ động, ai nói quấy cũng ừ, ai nói phải cũng gật. Hòa ở đây cũng không phải là phương tiện trong giai đoạn để rút thắng lợi về mình, rồi lại chiến. Hòa ở đây nhằm mục đích làm lợi cho tất cả, gây hạnh phúc cho tất cả, trong ấy có bóng dáng "tự và tha" không có so đo "ta và người".

II. LỤC HÒA LÀ NHỮNG GÌ?

Lục hòa gồm có sáu điểm sau đây:

1. Thân hòa cùng ở (Thân hòa đồng trú)

Nghĩa là cùng nhau ở dưới một mái nhà, trong một phạm vi, một tổ chức, hôm sớm có nhau, cùng ăn cùng ngủ, cùng học cùng hành.

Khi đã sống chung đụng hằng ngày như thế, thì phải hòa thuận với nhau, không dùng sức mạnh, võ lực để lấn hiếp, đánh đạp nhau. Nếu là anh em, vợ chồng, con cái trong một gia đình, thì phải trên thuận dưới hòa, anh ra anh, em ra em, chồng ra chồng, vợ ra vợ, chứ không được lộn xộn vô trật tự, hiếp đáp, sát phạt nhau.

Nếu là những Phật tử, cùng ở với nhau học tập dưới một mái chùa, thì tuy là không phải ruột thịt, nhưng cũng là những người con chung của đức Phật, cùng một lý tưởng mục đích, thì cũng phải lấy cái hòa khí làm đầu, không được chia phe phái, ỷ mạnh hiếp yếu, ỷ thế hiếp cô, mạnh ai nấy được.

Nếu là đồng bào, cùng chung sống trong một quốc gia xã hội, thì phải lấy sự đoàn kết làm đầu, không được gây cảnh nồi da xáo thịt, chia năm xẻ bảy, làm thành giặc chòm, giặc xóm, sát phạt nhau, chém giết nhau. Người nước ta có câu ca dao rất có ý nghĩa:

"Bầu ơi thương lấy bí cùng,
Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn".

Khác giống, mà sống chung trên một giàn, còn phải hòa thuận, thương yêu nhau; huống chi là cùng một dân tộc, một giống nòi!

Cũng thế, đã là nhân loại, cùng chung sống trên quả địa cầu nầy, thì dù là da trắng, da đen, da vàng hay da đỏ cũng là "Tứ hải giai huynh đệ" cả. Đã là giống người như nhau mà lại đem nhau ra chiến trường bắn giết nhau, tàn sát nhau, làm mồi cho súng đạn vô tri, thì thật là vô cùng phi lý.

Tóm lại, đã cùng chung sống với nhau trong một địa vị, một giới hạn, một hoàn cảnh, thì bao giờ cũng phải hòa hảo với nhau.

2. Lời nói hòa hiệp, không tranh cãi nhau

Muốn thân không đánh đạp nhau, không đối chọi nhau, khi ở bên cạnh nhau, thì lời nói phải giữ gìn cho được ôn hòa nhã nhặn; trong mọi trường hợp, nhất thiết không được rầy rà, cãi cọ nhau.

Có người thân hòa mà khẩu không hòa, ăn thua nhau từng câu nói, tìm cách mỉa mai, châm thọc nhau, hạch hỏi nhau từng tiếng một, cuối cùng sanh ra ấu đả nhau.

Trong một gia đình, cũng vì một lời nói không hòa, mà nhiều khi anh em xa lìa nhau, vợ chồng ly tán nhau, cha con không thấy mặt nhau, trở thành những kẻ xa lạ, thù hằn nhau.

Trong xã hội, cũng vì một lời nói không hòa, mà nhiều khi quốc gia phải lâm nạn chiến tranh, nhân loại phải bị đẩy vào lò sát sanh thảm khốc.

Bởi thế, nên thân thể hòa chưa phải là đủ, mà Phật dạy phải hòa cả miệng nữa. Nghĩa là người Phật tử phải nói lời dịu dàng, hòa nhã với nhau, nhất thiết không được cãi lẫy, gây gỗ nhau. Nếu có gì thắc mắc, cần phải bàn cãi cho ra lẽ, thì tuyệt đối phải dùng lời nói ôn tồn, hòa nhã mà bàn luận.

3. Ý hòa cùng vui (Ý hòa đồng duyệt)

Duy thức học có nói: Ý là hệ trọng hơn hết, nó là động cơ thúc đẩy miệng và thân. Kể công thì nó đứng đầu, mà kết tội, nó cũng đứng trước (công vi thủ, tội vi khôi). Bởi thế cho nên, trong một gia đình, một đoàn thể, mỗi người cần giữ gìn ý tứ, tâm địa của mình. Nếu ý tưởng hiền hòa, vui vẻ thì thân và lời nói dễ giữ được hòa khí. Trái lại nếu ý tứ bất hòa, thường trái ngược nhau, ganh ghét nhau, thì thân và khẩu khó mà giữ cho được hòa hảo. Dù có cố gắng bao nhiêu, để thân và khẩu được hòa khí, hay vì sợ một uy quyền gì trên, mà phải ăn ở hòa thuận với nhau, thì sự hòa thận này cũng chẳng khác gì một lớp sơn đẹp đẽ, tô lên một tấm gỗ đã mục. Một khi sự xung đột bên trong đã đến một mức độ không thể chứa đựng được nữa, tất nó sẽ nổ tung ra trong lời nói hay trong những cái đấm đá; cũng như tấm gỗ khi đã mục quá rồi thì thế nào lớp sơn bên ngoài cũng rạn nứt, đổ bể.

Đức Phật đã thấu rõ như thế, nên Ngài dạy phải có tâm ý vui vẻ hòa hiệp trong khi chung sống với nhau.

Muốn được tâm ý hòa hiệp, phải tu hạnh Hỷ xả. Hỷ xả nghĩa là bỏ ra ngoài những sự buồn phiền, hờn giận, không chấp chặt trong lòng những lỗi lầm của kẻ khác. Có như thế, tâm hồn mới thư thái, vui vẻ được, và ý nghĩ mới trong sáng, thanh tịnh được. Vậy, Phật tử chúng ta hãy cố gắng tu hạnh hỷ xả mới được.

4. Giới hòa cùng tu (Giới hòa đồng tu)

Trong một tổ chức, một đoàn thể nào có trật tự, tất đều có kỹ luật qui củ hẳn hoi.

Trong đạo Phật, mỗi Phật tử, tùy theo địa vị cấp bậc tu hành của mình, mà thọ lãnh ít hay nhiều giới luật. Người tại gia thì thọ Ngũ Giới; người xuất gia thì thọ 10 giới nếu là Sa Di, thọ 250 giới nếu là Tỳ kheo, thọ 348 giới nếu là Tỳ kheo Ni v.v...

Khi Phật tử hội họp lại, hay khi cùng chung sống để tu học, mỗi ngày tùy theo cấp bậc của mình mà giữ giới. Đã cùng một cấp bậc với nhau, thì tất phải thọ giới và giữ giới như nhau, chứ không được lộn xộn, giữ giới nầy, bỏ giới kia, giữ giới kia, bỏ giới nọ, mỗi người mỗi thứ. Nếu có sự vô kỷ luật nầy thì lẽ tất nhiên tổ chức ấy sẽ tan rã. Vì thế, đức Phật dạy: khi Phật tử đã chung sống với nhau, thì triệt để phải cùng nhau tu những giới luật như nhau, giữ đúng những giới luật của cấp bậc mình.

Nói rộng ra, trong một trường học, một gia đình Phật tử, một hội chẳng hạn, bao giờ cũng lấy kỷ luật làm đầu. Trong trường, nếu học sinh không giữ kỷ luật của trường, ai muốn ra cứ ra, ai muốn vào cứ vào, ai muốn học cứ học, ai muốn chơi cứ chơi, thì trường ấy ắt phải sập. Trong gia đình Phật tử, đoàn sinh mỗi người mỗi làm theo mỗi ý riêng mình, không tuân năm điều luật của gia đình, không làm theo huấn lệnh của Huynh trường, thì dg Phật tử ấy sẽ tan rã. trong một hội viên không tôn trọng điều lệ của hội, phân chia giai cấp, tự cho mình sang không cần giữ giới như người hèn, tự cho mình giàu, không gữ giới như người nghèo, tự cho mình có học thức không giữ giới như người vô học; nếu có tình trạng như thế tất hội ấy sẽ tan rã.

Nói tóm lại, trong một đoàn thể, đạo hay đời, nếu không cùng nhau gìn giữ giới điều, kỷ luật, quy tắc, thì chúng ta không bao giờ sống chung với nhau được. Vật Phật tử, muốn hòa hợp cùng nhau để tu tập, thì mỗi người cần phải gìn giữ giới luật như nhau.

5. Thấy biết giải bày cho nhau hiểu (Kiến hòa đồng giải)

Trong sự sống chung, mỗi người hiểu biết được điều gì, khám phá được điểm gì, phải giải bày, chỉ bảo cho người khác hiểu. Như thế trình dộ hiểu biết mới không chênh lệch, sự tu học mới tiến đều về tinh thần bình đẳng, mới dễ giữ vững giữa những người cùng ở một đoàn thể.

Khi ta khám phá ra được một điều gì mới lạ, hay có một ý kiến gì hay ho, nếu ta không giải bày cho người chung quanh, thì không những ta là một kẻ ích kỷ, mà còn tạo ra một sự tắc nghẽn giữa sự thông cảm với những người khác. Lòng ích kỷ và sự tắc nghẽn ấy là mối dây của sự chia rẽ, bất hòa, xung đột. Trước một vấn đề, mỗi người sẽ nghĩ, sẽ thấy mỗi cách, và do đó, sẽ gây nghi ngờ, hoang mang trong đoàn thể, vì phần đông không biết tin vào ai.

Nhất là trong kinh sách Phật, vừa nhiều, vừa cao siêu, vừa đủ loại, mỗi Phật tử có thể khám phá ra một khía cạnh khác nhau, tìm ra một ý nghĩa có thể đúng, mà cũng có thể sai. Trong người trường hợp ấy, mà không gấp rút giải bày quan điểm, ý kiến của mình cho mọi người trong đoàn thể hiểu biết, thì khó mà có thể sống hòa hiệp với nhau.

6. Lợi hòa cùng chia cân nhau (Lợi hòa đồng quân)

Về tài lợi, vật thực, đồ dùng phải phân chia cho cần nhau hay cùng nhau thọ dụng, không được chiếm làm của riêng, hay giành phần nhiều về mình.

Trong khi sống chung, nếu có người đem cho vật thực, y phục, mền chiếu, thuốc thang v.v... thì phải đem quân phân tất cả, nghĩa là chia cho đều nhau, không vì tình riêng, kẻ ít người nhiều, kẻ tốt người xấu, nhưng phải lấy công bằng làm trọng. Giữ được như thế, thì dù ở chung nghìn người cũng vẫn hòa vui. Trái lại, nếu vì tính tư, ý riêng tham tài ham lợi thì dù chỉ có vài ba người chung sống với nhau, cũng không thể hòa được.

Trong xã hội sở dĩ có sự xung đột dữ dội, phân chia giai cấp, cũng do vì thiếu sự "Lợi hòa đồng quân" cả. Người giàu thì giàu quá, kẻ nghèo thì nghèo xơ, kẻ dinh thự nguy nga ruộng đất cò bay thẳng cánh, có kẻ không có một chòi tranh vách đất. Do đó, không thể có hòa bình được: người vô sản xung đột với kẻ hữu sản, nước nghèo đói sanh sự với nước phú cường.

Nếu nhân loại thâm hiểu rằng: cuộc giàu sanh phú quý trong nhân gian, như hạt sương đọng trên cành hoa, công danh vinh hiển trên đời như bọt nước nổi trên mặt biển, thì chắc sự chênh lệch giữa giàu và nghèo sẽ bớt đi nhiều lắm, và nhân loại sẽ bớt xung đột nhau hơn.

Với một tinh thần bình đẳng lợi tha, từ bi cứu khổ, với một tri huệ soi thấu rõ sự vô thường, giả tạm của cuộc đời, Đức Phật đã dạy: "Có tài lợi, nên tùy phận chia sớt cho nhau", hay triệt để hơn nữa: "Lợi hòa đồng quân".

Vậy, chúng ta đã là Phật tử, phải nên cố gắng thực hành cho được lời dạy ấy.

III. KẾT LUẬN

Để có một ý niệm tổng quát về Lục hòa chúng ta hãy ôn lại một lần nữa, những ý chính trong 6 điều chỉ bảo của đức Phật:

1) Hãy chung sống với nhau một cách hòa hợp, hãy chung lưng đấu cật, đùm bọc nhau, chứ không nên dùng võ lực để đàn áp nhau.

2) Hãy nói năng với nhau một cách dịu dàng, hòa nhã; nếu có điều gì thắc mắc cần bàn cãi, thì cũng phải bàn cãi trong ôn hòa, lễ độ.

3) Hãy nuôi dưỡng ý tốt đẹp đối với nhau, hãy trau dồi đức hỷ xả; đừng bao giờ thù hiềm, ganh tỵ nhau.

4) Hãy giữ đúng giới luật như nhau, hãy lấy kỷ luật làm đầu. Vô kỷ luật thì không một đoàn thể nào có thể tồn tại được.

5) Hãy giải bày những sự hiểu biết, những ý kiến của mình cho người chung quanh. Người thông hiểu nhiều, phải có bổn phận chỉ bày cho người hậu tiến và dắt họ đi kịp mình.

6) Hãy chia đồng đều tài lợi thu thập được cho những người cùng sống chung với mình, để mọi người đều được thỏa mãn, vui vầy.
Sáu điều dạy trên đây, nếu chúng ta thực hiện một cách triệt để thì trong gia đình, cha mẹ vợ chồng, anh em, đều được hòa thuận yên vui, gia nghiệp mỗi ngày một thịnh đạt; quốc gia được hùng cường thịnh trị, thế giới được hòa bình an lạc.

HT. Thích Thiện Hoa

(Trích Phật Học Phổ Thông)



Lần cập nhật cuối ( Thứ hai, 15 Tháng 1 2018 20:24 )
 

Lợi Ích Khi Bạn Theo Đạo Phật

Email In
Share


Thế giới bây giờ đang trải qua thời kỳ đa tôn giáo, tức là thời kỳ độc quyền tôn giáo đã chấm dứt. Vì đa tôn giáo như thế cho nên một số tôn giáo đang cạnh tranh ráo riết để tăng trưởng số tín đồ của mình giống như các công ty thương mại cạnh tranh ráo riết để bán hàng. Nếu chúng ta chịu khó vào website của một vài tôn giáo chúng ta sẽ thấy thống kê số tín đồ tân tòng mỗi năm được đưa ra như một bằng chứng cụ thể chứng tỏ tôn giáo của mình là tôn giáo tốt đẹp, mỗi ngày mỗi được nhiều người tin theo, giống như các công ty thương mại trình bày số thương vụ mỗi năm để chứng tỏ công ty của họ thành công và càng ngày càng được công chúng ưa chuộng.

Tuy nhiên thời đại bây giờ trí tuệ con người mở mang rất nhiều. Cuộc cách mạng về thông tin và phương tiện giao thông tiến bộ làm cho thế giới nhỏ lại và con người hiểu biết nhau nhiều hơn. Quyền thông tin, trao đổi tư tưởng, trình bày sự thực của lịch sử, quyền tự do tư tưởng không một quyền lực nào có thể ngăn cản được. Sự cáo chung của chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa đế quốc, sự độc lập của các quốc gia – dù là quốc gia nhỏ bé khiến cho tiếng nói nào cũng được mọi người lắng nghe hoặc phải lắng nghe. Mọi người đều bình đẳng, mọi quốc gia đều bình đẳng, mọi tôn giáo đều bình đẳng. Đã qua rồi thời kỳ áp đặt, khống chế, lừa mị, che giấu.

Đạo Phật ra đời cách đây hơn 2500 năm giữa lúc Bà La Môn hay Ấn Độ Giáo cực thịnh tại Ấn Độ. Khi Đức Phật tại thế và sau khi Đức Phật nhập diệt một thời gian ngắn – là thời kỳ vàng son của Phật Giáo do chủ trương bình đẳng xã hội, muôn loài chúng sinh đều bình đẳng, không van vái thần linh mà dùng Trí Tuệ và Từ Bi – thông qua Thập Thiện, Bát Chánh Đạo, Lục Hòa v.v.. để giải quyết mọi vấn đề của xã hội và con người. Sau đó Đạo Phật lan rộng, về phía Bắc tới Tây Tạng. Về phía Nam tới Tích Lan, về Đông Á tới A Phú Hãn (Afghanistan) về phía đông tới Mông Cổ, Trung Hoa rồi Triều Tiên, Nhật Bản. Về Đông Nam Á tới Miến Điện, Thái Lan, Lào, Cam Bốt và Việt Nam. Tại Việt Nam, theo Lịch Sử Phật Giáo Việt Nam của Tiến sĩ Lê Mạnh Thát có đề cập là : “Thành Luy Lâu là toà thành đầu tiên tại Tỉnh Bắc Ninh mà Phật Giáo từ Ấn Độ đã truyền bá sang trên phần đất Giao Chỉ (Việt Nam sau này - Phật giáo truyền vào nước ta trước Trung Quốc gần 150 năm, Vĩnh Bình năm thứ 10 Phật giáo mới truyền vào Trung Quốc). Vào thế kỷ thứ II trước Tây Lịch, những đoàn buôn Ấn Độ đầu tiên đã đến buôn bán tại Luy Lâu; đi theo họ còn có những tăng lữ Phật Giáo”.

Có thể nói Đạo Phật từ Ấn Độ truyền bá đi khắp nơi bằng con đường hòa bình. Điều đó có nghĩa là Phật Giáo không đến các xứ bằng con đường chinh phạt hoặc lùng kiếm thuộc địa. Chúng ta không thể tìm thấy trong bất kỳ giáo hội Phật Giáo của các quốc gia theo Phật Giáo nào một tổ chức gọi là “Phái Bộ Truyền Giáo” để thiết lập kế hoạch đem Phật Giáo ra nước ngoài. Phật Giáo cũng không liên kết với bất cứ một đế quốc nào, một siêu cường nào, một quốc gia hùng mạnh nào để bành trướng. Phật Giáo truyền đến các nơi khác nhờ một số thương buôn Ấn Độ hoặc một số vị sa môn “xuất dương” đến tu hành tại một quốc gia nào đó. Do đức độ tỏa sáng, lâu rồi vua, quan, dân chúng địa phương tin theo vị sa môn này rồi họ tự động truyền bá Phật Giáo hoặc cho phép truyền bá trong quốc gia họ. Tuy nhiên sau khi Đức Phật nhập diệt, Phật Giáo từ từ suy tàn ngay trên quê hương mình.

Theo một số học giả nghiên cứu về Phật Giáo thì chính Ấn Độ Giáo và những cuộc xâm lăng của Hồi Giáo sau này đã là nguyên ủy nói trên. Hồi Giáo khi tiến vào Ấn Độ đã triệt hủy cả Ấn Độ Giáo lẫn Phật Giáo. Rồi sau khi Đức Phật nhập diệt, Phật Giáo không còn được các vua quan Ấn Độ ưa chuộng nữa bởi vì nó làm chướng ngại cho chủ trương phân chia giai cấp. Theo kinh điển Ấn Độ Giáo, giai cấp cùng khổ/tiện dân (Untouchables) không thể nào bình đẳng với các giai cấp khác. Cho tới ngày hôm nay, mặc dù thế giới tiến bộ như thế, việc nâng cao thân phận xã hội của tầng lớp tiện dân Ấn Độ vẫn gặp phải những chống đối mãnh liệt, ngay cả trong các đại học là nơi được giảng dạy những tư tưởng tiến bộ nhất.

Còn tại những nơi khác trên thế giới, số phận của Phật Giáo cũng thật hẩm hiu. Sự bộc phát của Chủ Nghĩa Thực Dân, chủ nghĩa đem pháo thuyền đi xâm lăng, săn lùng thuộc địa để làm giàu cho “mẫu quốc” của các đế quốc hùng mạnh Âu Châu đã là một thảm họa cho nhân loại trong đó có Phật Giáo. Hầu như không một quốc gia “phi Âu Châu” nào thoát khỏi thân phận nô lệ! Tại các quốc gia nô lệ, văn hóa bản địa bị triệt hủy. Tôn giáo bản địa nếu còn sống sót thì cũng phải nép mình vào làng quê, hang cùng ngõ hẹp, thôn xóm hẻo lánh để tồn tại. Ít ra trong một thế kỷ, tại Việt Nam, Đạo Phật đã bị những ông bà thực dân miệt thị như là một thứ “mê tín dị đoan, thờ cúng Quỷ Thần” và dĩ nhiên là rất “lạc hậu” và cần phải đào thải.

Thế nhưng với thời gian, theo Luật Vô Thường, dòng đời đã biến đổi. Giờ đây rất nhiều trí thức Âu Châu đã tôn sùng Đạo Phật. Liên Hiệp Quốc cũng đã công nhận Lễ Vesak – kỷ niệm cùng lúc ngày Tam hợp Đản Sanh/Thành Đạo/ và Nhập Diệt của Đức Phật là ngày lễ quốc tế (Vesak Day). Ngày 15 tháng 7 năm 2009, Tribune de Geneve (Diễn Đàn Geneve) Hội Liên Minh Quốc Tế Tiến Bộ Tôn Giáo Và Tâm Linh (ICARUS) tại Geneve đã ban tặng Cộng Đồng Phật Giáo năm nay “Giải Thưởng Tôn Giáo Tốt Nhất Thế Giới”.

Tại Hoa Kỳ, nếu bạn đến Thành Phố Berkeley – California, bạn sẽ gặp rất nhiều các giáo sư các nhà trí thức tiêu biểu cho trí thức Hoa Kỳ mà họ là đệ tử của Đức Phật. Một số tài tử nổi tiếng của Holywood, ca sĩ nổi tiếng của Hoa Kỳ, ngôi sao bóng tròn của như Baggio của Ý, Beckham của Anh v.v… họ cũng đều là Phật Tử. Mới đây nhất nhà sư Thomas Dyer – một cựu truyền giáo Baptist đã trở thành sĩ quan Tuyên Úy Phật Giáo lần đầu tiên trong Quân Đội Hoa Kỳ và sẽ được cử sang Iraq để phục vụ nhu cầu tâm linh cho binh lính Hoa Kỳ vốn là Phật tử tại đây. Dĩ nhiên các nhà trí thức này, các siêu sao màn bạc, các ca sĩ nổi danh tiền kiếm bạc triệu và cả nhà truyền giáo Baptist kia… họ không theo Đạo Phật vì cơm áo, mà họ đi tìm sự giải thoát tâm linh hoặc một đời sống thoải mái hơn về tâm hồn mà họ không tìm thấy nơi tôn giáo cũ mà họ đã theo. Nói Giải Thoát Tâm Linh là nói chung chung, khái quát vậy thôi.

Nội dung của nó còn bao hàm rất nhiều những đức tính cao quý, những phẩm hạnh tốt đẹp, những tư tưởng tốt lành, những hành vi nhân đạo, những suy nghĩ hiền hòa, chân thật, những hành vi lợi lạc cho mình cho người, những an vui của tâm hồn mà con người lúc nào cũng mong vươn tới, khắc khoải vươn tới từ mấy ngàn năm nay. Chắc chắn khi theo Đạo Phật bạn sẽ có. Tất cả những tình cảm, tư tưởng tốt lành đó sẽ hằng trụ trong bạn, sẽ đi theo thần thức của bạn khi bạn qua đời. Vĩnh viễn không thể nào mất được. Đó là các điều tốt lành dưới đây:

1) Tư tưởng của bạn được giải phóng: Tư tưởng được giải phóng có nghĩa là bạn không bị trói buộc bởi bất cứ tín điều, tư tưởng, quan điểm, chủ nghĩa và sự cấm kỵ nào. Không có một tư tưởng nào là tư tưởng cấm kỵ trong Đạo Phật. Nếu vũ trụ rộng lớn như thế nào thì tư tưởng của bạn bao la (vô biên xứ) như thế. Nếu chim và mây trên trời có thể bay lượn tự do thì sự tự do tư tưởng của bạn cũng như thế. Phật Giáo không buộc bạn phải tôn thờ bất cứ lời răn dậy nào. Phật Giáo từ chối đầu óc cuồng tín và giáo điều cực đoan. Lời Phật dạy giống như một viên thuốc, một bài thuốc, một phương thuốc hay. Nếu bạn không uống thì uổng phí vì BỆNH không hết. Chỉ có thế. Nếu bạn không tin Phật, bạn chẳng bị trừng phạt hay bị đày xuống hỏa ngục. Nhưng nếu bạn làm điều xấu hoặc điều ác thì chính tâm hồn bạn đang bị vây hãm trong Hỏa Ngục mà bạn không biết.

Quan niệm Phá Chấp là quan niệm độc đáo của Đạo Phật. Ngay trong cuộc sống hằng ngày nếu bạn chịu khó “Phá Chấp” một chút thì cuộc đời bạn cũng thanh thản, bớt phiền não đi rất nhiều. Chấp trước, mê chấp, chấp thủ là một trong những gông cùm làm khổ con người. Chính vì hiểu được nỗi khổ này mà Đức Phật luôn dạy các hàng đệ tử là phải phá chấp. Mà phá chấp tức là phá mê. Phá mê (tức ra khỏi cơn mê) là sáng suốt. Mà sáng suốt là giải thoát. Ý nghĩa giải thoát là như thế. Những ai đã từng ở tù hẳn biết ngục tù khổ đau như thế nào. Thế nhưng ngục tù tư tưởng còn khổ đau gấp bội. Theo tinh thần của Phật Giáo thì tẩy não, nhồi sọ, nhồi nhét tư tưởng là nô lệ hóa con người và biến con người thành tù nhân để sai khiến. Nếu muốn tìm hiểu tinh thần phá chấp bạn có thể tìm đọc hai bộ kinh Kim Cang và Bát Nhã.

vô ngã

2) Bạn không còn phải sợ hãi thần linh nữa: Như đã nói ở trên Đạo Phật là đạo của trí tuệ. Khi dùng trí tuệ soi rọi thì vũ trụ này là do nhân duyên tạo thành. Thân xác của chúng ta đây cũng là sự hòa hợp của Ngũ Uẩn: Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức. Những việc làm đang diễn ra hằng ngày là do chính chúng ta quyết định. Khổ đau và hạnh phúc của chúng ta do chính ta hoặc tha nhân gây tạo chứ Quỷ Thần không thể can dự vào được. Cái chết là luật tự nhiên không phải do quỷ thần hoặc Nam Tào, Bắc Đẩu xóa sổ. Nếu bạn không đồng ý với những gì nói ở trên và cho rằng tất cả những khổ đau và hạnh phúc này là do Thần Linh gây tạo hoặc ban phát thì tại sao bạn tha thiết cầu nguyện thần linh suốt cả cuộc đời mà khổ đau của bạn vẫn không hết? Cầu nguyện tới bao giờ mới vừa lòng thần linh? Bao nhiêu thiên tai, bao tai nạn khủng khiếp, bao cuộc chiến tranh tàn bạo do ai gây ra? Do con người hay do một đấng thần linh nào đó vì phẫn nộ với loài người gây ra? Sự cầu nguyện có làm bớt thiên tai, dịch họa, chiến tranh, khổ đau của con người không?

Phật Giáo phủ nhận sự hiện hữu của thần linh trong cuộc sống của con người. Phật Giáo chủ trương chính Con Người phải giải quyết những vấn đề như chiến tranh hay hòa bình, hạnh phúc hay khổ đau của chính mình. Khi hiểu được như thế, khi đã liễu ngộ được như thế bạn không còn phải sợ hãi thần linh, tôn thờ thần linh, van vái và cầu xin ở thần linh nữa. Trong hầu hết các cuộc thuyết pháp, Đức Phật đề cập rất nhiều đến Trời, Quỷ, Thần, Thiên Long Bát Bộ v.v..

Tuy nhiên, theo Kinh Phật thì Trời, Quỷ, Quỷ Thần, Thiên Long Bát Bộ không liên hệ chi đến cuộc sống của con người. Họ không phải là thần linh tối thượng quyết định vận mạng của con người. Trời, Quỷ, Thần, Thiên Long Bát Bộ cũng quay đảo trong vòng luân hồi, cũng đầy rẫy phiền não, cũng bị quy luật Sinh, Lão, Bệnh, Tử chi phối. Còn về Phạm Thiên (Brahma) là vị mà người đời lúc bấy giờ coi như “bậc Toàn Thắng, Toàn Tri, Người Cầm Quyền Đinh Đoạt, là Giáo Chủ, là người Sáng Tạo, là Tạo Hóa, là Chúa Tể, là Cha của những chúng sanh đã, đang và sẽ ra đời.” (*) Đức Phật đã giảng dạy như sau: “Như vậy, chính do ý muốn và sự tạo tác của đấng Tối Cao mà con người trở thành sát nhân, trộm cắp, tà dâm, giả dối, phỉ báng, thô lỗ, nhảm nhí, thèm thuồng, khao khát, hiểm độc, tinh quái, và hiểu biết sai lầm. Do đó đối với người chủ trương thần linh là nguyên nhân chính yếu của tất cả những điều ấy thì con người sẽ không còn ý muốn, hoặc cố gắng, cũng không thấy sự cần thiết để làm, hoặc tránh không làm những hành động ấy.” (*) Và trong Túc Sanh Truyện (Maha Bodhi Jataka), Đại Bồ Đề, Bố Tát phê bình giáo lý chủ trương rằng mọi việc đều do đấng Tối Cao tạo nên như sau: “Nếu có một thần linh toàn quyền ban phước hay gieo họa cho tạo vật đã được chính ngài tạo ra, và cho chúng nó những hành động tốt hay xấu, vị thần linh ấy quả thật đầy tội lỗi. Con người chỉ thừa hành ý muốn của ngài.” (*)

3) Khi phát huy hết năng lực của Trí Tuệ, không còn bi lụy, khóc than, cầu xin, van vái, qụy lụy ai, bạn là người Tự Lập và Độc Lập: Khi đó bạn trở về với tự ngã, phát huy hết tiềm năng của nội tâm. Lúc đó bạn sẽ thấy thấu suốt bản thể của Vũ Trụ, Sự Sống, Sự Chết, Hạnh Phúc và Khổ Đau và lòng bạn lắng yên như bể cả. Khi tâm hồn của bạn đã lắng yên tức đi vào trạng thái Định. Trạng thái này sẽ khiến bạn cảm thấy thơ thới, hân hoan tức là cảnh giới an nghỉ tuyệt đối của tâm hồn gọi là Niết Bàn (Nirvana). Tuy nhiên có hai loại niết bàn – đó là Hữu Dư Niết Bàn và Vô Dư Niết Bàn. Chỉ có các chư Phật mới có thể chứng tới Vô Dư Niết Bàn. Còn như chúng ta thì chỉ có thể chứng tới Hữu Dư Niết Bàn bởi vì còn có những phiền não rất vi tế mà chúng ta chưa đoạn diệt hết.


4) Bạn bình đẳng với muôn loài. Thể tính của bạn là thể tính Phật, bạn có thể trở thành Phật. Tôi có thể cam đoan với các bạn rằng không có một tôn giáo nào mà vị giáo chủ lại nói rằng Thể Tính của vị giáo chủ ngang bằng với Thể Tính của tín đồ và nếu chịu tu tập thì tín đồ cũng đạt được ngôi vị của giáo chủ. Đây là tính độc đáo và hi hữu của Phật Giáo. Chính vì thế khi ứng dụng quan niệm này vào xã hội thì trong một xã hội thuấn nhuần tinh thần Phật Giáo sẽ không có giai cấp, không có nạn kỳ thị chủng tộc, không có Phật tử giàu sang và Phật tử nghèo hèn. Cũng không có Phật tử thông minh và Phật tử ngu độn. Từ vua quan đến thứ dân, tiện dân, Phật đều đối xử như nhau. Tất cả đều bình đẳng trước mắt Phật. Khi bạn lễ Phật là lễ lạy, cung kính cái Phật Tánh trong con người mình, là bạn cung kính tất cả những phẩm hạnh cao quý vốn có trong con người bạn nếu được phát huy. Nó không phải là sự quỳ lạy thần linh bình thường như nhiều người không biết hoặc hiểu lầm. Khi chúng ta gặp nhau, chúng ta chắp tay xá và miệng nói “A Di Đà Phật” là chúng ta kính trọng những đức tính tốt lành trong con người của nhau, chúng ta cầu chúc cho nhau được sống ở Đất Thanh Tịnh, Quốc Độ Thanh Tịnh (Tịnh Độ) của Phật A Di Đà.

5) Bạn sẽ là quán quân trong việc bảo vệ môi trường, bảo vệ thú vật do lòng Từ Bi: Tôi có thể thưa với bạn rằng không có kinh điển của một tôn giáo nào trên thế giới lại nói nhiều về loài vật như kinh Phật. Thảng hoặc nếu có đề cập tới thì chỉ coi loài vật như một thứ do Thần Linh tạo ra để làm thực phẩm cho loài người trong các bữa ăn và cúng tế Thần Linh. Nhưng Đức Phật thì không thế. Ngay trong thời kỳ còn ở trong cung vàng điện ngọc, Thái Tử Sĩ Đạt Ta đã có lòng từ tâm đối với những loài thú vật đáng thương. Truyện kể rằng Hoàng Tử Đề Bà Đạt Đa đưa cây cung lên bắn một con chim. Con chim không chết mà chỉ bị thương và sa xuống sân của thái tử. Thái Tử Sĩ Đạt Ta đã chạy ra, ôm con chim vào lòng và chữa vết thương cho nó. Lúc đó vị hoàng tử chạy tới và đòi lại con chim nhưng Thái Tử Sĩ Đạt Ta nhất quyết không trả lại. Hai bên tranh luận và sự việc tới tai Đức Vua Tịnh Phạn. Hoàng Tử Đề Bà Đạt Đa nói rằng con chim do hoàng tử bắn cho nên nó phải thuộc về hoàng tử. Còn thái tử thì cho rằng vị hoàng tử khi giương cây cung bắn con chim là muốn một con chim chết. Nay con chim vẫn còn sống và thái tử lại bảo vệ mạng sống cho nó cho nên con chim phải thuộc về thái tử. Đức vua nghe nói động lòng từ tâm và phán quyết là con chim thuộc về Thái Tử Sĩ Đạt Ta.

Trong suốt cuộc đời hành đạo, Đức Phật thường dùng những truyện kể về đời sống của những loại thú vật để làm chuyện ngụ ngôn giảng dạy đạo đức và tình thương. Nếu quý vị và nhất là các em nhỏ muốn biết những chuyện hấp dẫn và đầy ý nghĩa đạo đức này có thể đọc cuốn Prince Goodspeaker (Hoàng Tử Thiện Ngôn) do Todd Anderson sưu tầm và dịch ra Anh Ngữ xuất bản bởi Amitabha Buddhist Society of NY Inc. năm 1995. Chính vì lòng xót thương loài vật như thế mà Đức Phật chủ trương ăn chay, không ngoài mục đích đề cao “đức hiếu sinh”. Cấm sát hại sinh linh là một trong những giới luật hàng đầu của Đạo Phật. Tuy nhiên một số vị sa môn đã ăn mặn, nguyên do là vì xưa kia trong khi đi khất thực, thí chủ cho đồ mặn. Để tôn trọng thí chủ, các vị đã theo nguyên tắc “cho gì ăn nấy”. Tuy nhiên việc ăn mặn này không làm tổn hại đến phẩm chất đạo đức bởi vì các vị không bao giờ nhúng tay vào việc nuôi súc vật cũng như giết súc vật để làm thực phẩm.

Ngày nay vấn đề Ăn Chay để bảo vệ súc vật đã trở thành một trào lưu lan rộng khắp thế giới. Có thể những vị này không phải là Phật tử, nhưng khi hành động như thế, các vị đã đi đúng con đường mà Đức Phật giảng dạy cách đây hơn 2500 năm. Còn vấn đề môi trường. Trước hết Đức Phật sinh ra dưới cây Vô Ưu của Vườn Lâm Tỳ Ni. Khi đắc đạo, ngài ngồi dưới cội bồ đề. Trong suốt thời gian 45 năm hành đạo, Đức Phật thường thuyết pháp tại những khu rừng, vườn, như Lộc Uyển (Vườn Nai), Trúc Lâm (Vườn Trúc), Kỳ Viên, Núi Linh Thứu v.v.. Nơi nhập diệt của ngài là rừng Sa La Song Thọ. Trong những bài thuyết pháp Đức Phật đề cập rất nhiều đến chim muông, cây cỏ, hoa trái, tán dương núi rừng là nơi ẩn tu lý tưởng cho các vị A La Hán cho nên có thể nói cả cuộc đời của ngài gần gũi với thiên nhiên. Trong đời sống của chính mình và của chư tăng, ngài chủ trương tiết kiệm và quý trọng vật cho của thí chủ. Do đó nếu theo Phật, lòng Từ Bi của các bạn sẽ dễ dàng được thể hiện qua lòng yêu mến thú vật và môi trường thiên nhiên và đây đang là một trong những giá trị của thời đại.


6) Giàu có bạn cũng sung sướng. Nghèo túng bạn vẫn vui. Nghĩa là bạn sẽ vui vẻ trong mọi hoàn cảnh: Thưa bạn: Một trong những nguyên nhân làm khổ con người là lòng Tham: Tham của, tham tiền, tham sắc, tham quyền, tham danh vọng. Vì có lòng Tham cho nên không khi nào thấy đủ, không thỏa mãn với những gì mình đang có. Một ông triệu phú mà có lòng tham thì thấy bạc triệu vẫn chưa đủ và phải kiếm nhiều hơn nữa. Mà khi tham như thế thì đầu óc không còn sáng suốt, dễ dàng làm điều phi pháp, phi đạo đức để đưa đến tù tội. Có thể nói một phần không nhỏ những người đang phải chịu cảnh tù đày ngày hôm nay, nguyên do chính là vì lòng tham.

Cuộc khủng hoảng tài chính cuối năm 2008 tại Hoa Kỳ không phải do người Mỹ quản trị kém mà một trong nguyên nhân chính là lòng Tham. Vì tham cho nên các công ty tài chính, công ty đầu tư, các công ty bán cổ phần đã tìm cách lường đảo khách hàng khiến cho tổng thống Hoa Kỳ khi ban bố biện pháp cứu nguy đã phải thốt lên “Shame of you!” (Thật xấu hổ cho các ông). Lòng tham còn đưa tới nhiều đau khổ, tội lỗi khác và còn kéo dài kiếp này sang kiếp khác. Chính vì nhìn thấu rõ Tập Đế (Nguyên Do Của Khổ Đau) của con người là Tham-Sân-Si cho nên Đức Phật đã giáo huấn đệ tử là phải nỗ lực diệt trừ nguồn Tam Độc này.

Tuy nhiên tới đây bạn có thể hỏi: Tham-Sân-Si vốn gắn chặt với bản chất của con người. Chính vì có Tham-Sân-Si mà con người mới tiến bộ như thế này. Diệt trừ Tham-Sân-Si có nghĩa là con người trở nên ù lì, không làm gì cả sao? Thưa bạn, xin bạn đừng lo, chỉ có chư Phật, Bồ Tát, A La Hán, Thánh Tăng mới có thể đoạn trừ hết Tham-Sân-Si. Còn bình thường như bạn và tôi thì kiềm chế được Tham-Sân-Si đã là giỏi lắm rồi.

Trong suốt thời gian 45 hành đạo, Đức Phật đã hóa độ cho tất cả mọi thành phần xã hội, từ vua, quan, quan đại thần, binh sĩ, trí thức, thương buôn giàu có, tiện dân và kể cả những băng đảng giết người. Tà ma ngoại đạo đến quy phục ngài không thiếu. Đức Phật không bao giờ khuyên họ cứ ù lì, chấp nhận thân phận hiện tại. Dĩ nhiên chúng ta không thể chuyển nghiệp tức là chuyển hóa thân phận của mình bằng con đường phi đạo đức. Đức Phật cũng thế, ngài dạy chúng ta phải chuyển nghiệp bằng con đường tốt lành chẳng hạn phải thực hành Bát Chánh Đạo hoặc Thập Thiện, chứ có bao giờ Đức Phật bảo một người ăn mày cứ tiếp tục chấp nhận thân phận của một kẻ ăn mày đâu?

Thưa bạn trong lúc bạn thất vọng não nề, chán nản cùng cực hoặc căng thẳng đầu óc để toan tính một việc làm nguy hiểm gì đó khiến bạn muốn điên lên. Nếu bạn chợt dừng lại và truy cứu xem nguyên do của những cái nói trên (Phật Giáo gọi là Khổ Đau & Phiền Não) có phải là Tham - Sân - Si không ? Nếu bạn quán xét được như thế thì tự nhiên đầu óc bạn bớt căng thẳng, lòng bạn trùng xuống, hơi thở bạn trở nên điều hòa. Bạn như người đang nóng bức, khát nước được uống một ly nước dừa tươi mát mà Phật Giáo gọi là Cam Lồ Giải Thoát tức là (nước uống ngọt ngào làm tiêu đi mọi phiền não). Lúc đó bạn có cảm tưởng vừa ra khỏi cơn ác mộng từ đó lòng bạn thơ thới hân hoan, đầy đủ sáng suốt, thanh thản để giải quyết chuyện đời trong điều kiện tốt lành, cho chính bạn, gia đình bạn và cho người. Bạn cứ thử xem sao.

7) Bạn không xâm hại ai, chiếm đoạt của ai, sống an vui với tất cả mọi người. Bạn là quán quân góp phần vào việc giữ gìn hòa bình thế giới:

Thưa bạn: Đạo Phật không phải là đạo chú tâm vào cầu nguyện, van vái. Tụng kinh, niệm Phật, ăn chay là một trong những phương tiện/trợ duyên để giúp người ta làm lành, lánh dữ, tu sửa tính tình, khiến tâm địa bình ổn, gieo trồng căn lành rồi từ từ chuyển hóa tâm thức. Hằng hà sa số chư vị bồ tát, thánh tăng, thiền sư với trí tuệ dũng mãnh thông qua Thiền Định cũng đã chuyển hóa tâm thức nhanh chóng và chứng quả vị mà không cần tụng kinh niệm Phật.

Tuy nhiên dù là cư sĩ, tu sĩ, thánh Tăng, Bồ tát, A la hán muốn chứng được quả vị nói trên tức muốn giải thoát cũng phải thực hành Bát Chánh Đạo, Thập Thiện và Lục Hòa. Bát Chánh Đạo (Eightfold Path) gồm có: Right View (Chánh Kiến), Right Thought (Chánh Tư Duy), Right Speech (Chánh Ngữ), Right Action (Chánh Nghiệp), Right Livehood (Chánh Mệnh), Right Effort (Chánh Tinh Tấn), Right Mindfullness (Chánh Niệm) và Right Contemplation (Chánh Định). Rồi Thập Thiện thì gồm có: Không Sát Sinh, Không Trộm Cắp, Không Nói Dối, Không Nói Lời Thêu Dệt, Không Nói Lời Hai Chiều (đâm thọc, lúc này lúc khác), Không Nói Lời Hung Ác, Không Tham Muốn, Không Nóng Giận và Không Si Mê.

Còn Lục Hòa thì gồm có: Thân Hòa Đồng Trú, Khẩu Hòa Vô Tranh, Ý Hòa Đồng Duyệt, Giới Hòa Đồng Tu, Kiến Hòa Đồng Giải và Lợi Hòa Đồng Quân. Thưa bạn trong cuộc sống rất phiền phức và căng thẳng ngày hôm nay, chỉ cần chúng ta ứng dụng ba chỉ dẫn Chánh Kiến, Chánh Ngữ và Kiến Hòa Đồng Giải không thôi – thì xã hội sẽ bớt đi rất nhiều những lời lăng nhục, chửi bới, bóp méo, chụp mũ đang diễn ra hằng ngày và thế giới sẽ trở thành một diễn đàn hòa bình để cùng nhau thảo luận trong tương kính những vấn đề bức thiết của con người. Nếu bạn có giải pháp nào tốt lành hơn, xin bạn cứ nói ra.

8) Bạn không thấy cuộc đời này là nhàm chán, vô vị. Chắc chắn bạn yêu mến cuộc sống, nhưng cũng không sợ Chết:

Thưa bạn: Buồn chán (boring/depressed) là một trong những căn bệnh tệ hại của kiếp người. Không phải chỉ những người nghèo khổ mới buồn chán mà cả hàng quí tộc, vương tôn công tử, vua quan, trí thức, văn nghệ sĩ, tỉ phú cũng buồn chán. Kể cả lứa tuổi hoa niên cũng buồn chán và đưa tới việc tự sát. Bản nhạc Bonjour Tristesse (Buồn Ơi Chào Mi) chứng tỏ điều này. Thật lạ lùng khi thấy tài tử xi-nê, ca sĩ nhạc Pop nổi danh khắp hoàn vũ, hình ảnh được hàng triệu người mua, thêu trên áo và tôn thờ như thần tượng, những celebrities này sống sung sướng trong những dinh thự tráng lệ, kẻ hầu người hạ, người tình (boy friend/girl friend) không thiếu, thế mà họ cũng buồn chán. Cái chết của cô đào Marilyn Monroe và ca sĩ Michael Jackson mới đây cho thấy những vị này đã chết là vì buồn chán, vì thấy cuộc đời vô vị.

Nhưng cũng thật lạ lùng là những vị sư, ni cô, thiền sư, đời sống đạm bạc, ẩn dật trong những ngôi chùa, tu viện thì họ chẳng bao giờ phải uống thuốc ngủ, hoặc tự tử vì buồn chán cả. Tại sao thế ? Bởi vì những vị này, qua lời giáo huấn của Đức Phật và do chứng ngộ bản thân, họ đã thấy tiện nghi, vật chất, của cải không phải là cứu cánh của hạnh phúc. Hơn thế nữa họ biết cách sống : Sống Trong Tỉnh Thức. Sống trong tỉnh thức là sống mà biết quý trọng sự sống, biết mình đang sống. Xin bạn hãy thử mở hết các giác quan ra, hãy lắng đọng tâm tư, hãy để cho lòng mình trùng xuống, thật nhẹ nhàng, thật êm dịu, bạn sẽ thấy:

– Tiếng gió vi vu là lúc ta chẳng phiền chẳng não.

– Trời rộng bao la là trí tuệ ta siêu việt.

– Đất dày là nghị lực và ý chí của ta chẳng thể hao mòn.

– Tiếng suối reo là tiếng lòng ta đó.

– Đại dương xanh thẳm là tấm lòng ta trải rộng với lòng quảng đại nhân từ.

– Đám mây lững lờ bay là những giấc mộng trong đời của ta chợt thành, chợt biến không ngừng.

– Chú thỏ non ngơ ngác chạy tung tăng trên thảm cỏ là những ngày thơ ấu của ta.

– Cánh chim bay lượn trên vòm trời xanh là khát vọng tự do của ta đó.

– Bão tố là lúc lòng ta sân hận.

– Tiếng sóng vỗ bờ rì rào của biển là lời ta nỉ non tâm sự với đời.

– Đàn ngựa nhởn nhơ trên cánh đồng là tinh thần ta bất khuất.

– Cả tiếng rống của loài sư tử cũng là lòng kiêu hãnh của ta ngang bằng trời đất. Ta sống ung dung tự tại và không bao giờ biết sợ sệt.

Bạn ơi, khi bước vào Đạo Phật, khi thực hành thiền quán bạn sẽ cảm nghiệm và tận hưởng được những điều thi vị nói trên. Bởi vì khi đó, bên cạnh cuộc sống vật chất này bạn còn có tâm hồn của thiền sư. Chính vì thế mà các Meditation Center đã mọc lên khắp nơi trên thế giới. Bạn hãy thử thực hành như thế một thời gian xem sao. Rồi 100 năm qua đi rất nhanh, rồi bạn sẽ từ giã cõi đời, từ giã cõi Diêm Phù Đề này. Nhưng xin bạn đừng thắc mắc nhiều. Bạn hãy theo lời chỉ dẫn của Đức Đạt Lai Lạt Ma: Sống Hạnh Phúc, Chết Bình An (The Joy of Living and Dying in Peace). Vì trí tuệ của bạn đã mở bung ra khắp vũ trụ này, vì thần thức của bạn đã tự do, vì tâm hồn của bạn đã thể nhập vào thiên nhiên, cho nên bạn muốn vào Cung Trời nào, muốn đầu thai vào đâu, hoặc muốn trở lại đây thêm một kiếp nữa là tùy ý. Bạn khỏi phải bận tâm về cái chết.

9) Bạn là người cao thượng trong tinh thần biết giúp đỡ và an ủi người khác:

Trong suốt thời gian 45 năm hành đạo, Đức Phật không nói gì hơn là giáo huấn đệ tử và chúng sinh xây dựng Tâm Lành, Trí Tuệ Sáng Suốt và thực hiện Hạnh Bố Thí giúp đời. Ngài luôn luôn cất lời ca ngợi tất cả mọi người – từ phàm phu, kẻ nghèo khó, đến ông trưởng giả, đến các bậc đế vương, những vị ở khắp cõi Trời, Thiên Long Bát Bộ đã có công trong việc độ sinh. Có những vị do lời Đức Phật kể lại mà đã sống bất tử với thời gian như ngài Quán Tự Tại Bồ Tát, Địa Tạng Vương Bồ Tát và Mục Kiền Liên Bồ Tát. Ngài Quán Tự Tại đã phát lời nguyện giúp chúng sinh vượt qua nỗi sợ hãi (Vô Úy). Nếu có chúng sinh nào đang lâm vào vòng nguy biến, binh đao, nước lửa, ngục hình, tra tấn, khủng bố v.v.. nếu thành tâm niệm danh hiệu ngài, thì ngài sẽ thị hiện qua hình ảnh của Phật Bà Quan Âm mà cứu độ.

Còn ngài Địa Tạng Vương Bồ Tát đã phát lời nguyện thật ghê gớm: Địa Ngục Giai Không tức là là nếu thế giới này mà còn một người ở tù thì ngài không thành Phật. Vậy những ai đang mắc vòng lao lý hãy thành tâm niệm “Nam Mô Địa Tạng Vương Bồ Tát”, chắc chắn sẽ ứng nghiệm. Còn ngài Mục Kiền Liên Bồ Tát thì nhờ tâm chí thành cứu giúp mẹ đang bị khổ sở trong thế giới của loài quỷ đói (Ngạ Quỷ) mà được thế gian xưng tụng như biểu tượng của lòng hiếu thảo. Nếu bạn vốn sẵn lòng từ tâm, lòng hy sinh cứu đời, hạnh nguyện san sẻ tình thương với người khác, xin bạn thử bước vào Đạo Phật. Chắc chắn bạn sẽ được thỏa mãn.


Tạm Kết Luận:

Dĩ nhiên những gì tôi chia sẻ với bạn ở đây còn rất thiếu sót, thô sơ. Sau khi đã đọc xong tất cả những gì nói ở trên, dù bạn có thể đã đồng ý một phần nhưng bạn có thể còn hỏi “Tôi theo Đạo Phật, tôi theo Phật thì tôi có cơm ăn áo mặc, có thể trúng số, có thể thăng quan tiến chức, nghèo có thể trở thành giàu không?” Xin thưa: Bạn không phải là một đứa trẻ đang khóc (ẩn dụ cho khổ đau) cần phải cần cho kẹo (dụ dỗ) mới nín (tức mới hết khổ đau). Bạn đang đói, dù bạn theo Phật, nhưng chắc chắn bát cơm không hiện ra trước mắt bạn. Nhưng vì theo Phật bạn sẽ làm lành, gieo nhân lành như thế chắc chắn bạn sẽ gặt hái được Quả Lành tức là những điều tốt đẹp trong tương lai – kiếp này hay kiếp sau. Điều này đúng chẳng sai.

Cuối cùng điều bạn cần nhớ là Đạo Phật không phải là đạo đổi chác, không phải là đạo ban bố phép mầu, không phải là đạo hứa hẹn. Sự giải thoát, nguồn hạnh phúc do Đạo Phật – thực ra do chính bạn đem lại – có thể thực chứng ngay kiếp này, ngay bây giờ (here now), không phải đợi chết đi mới có. Nó là đạo của Trí Tuệ, Từ Bi và Lòng Dũng Cảm. Đó là ba trụ cột giúp cho chúng ta thoát khỏi thân phận nghiệt ngã, cay đắng của kiếp người rồi vươn lên sống ung dung tự tại, và có ý nghĩa. Nếu bạn không tin vào Lòng Từ Bi, Lòng Dũng Cảm mà mình vốn có, không tin vào Trí Tuệ sáng suốt của mình mà chỉ muốn cầu xin, van vái thần linh để đạt hạnh phúc trong cõi đời này, bạn có thể đi tìm một tôn giáo khác.

----------------------------------

Cước chú: Dấu (*) là lời trích dẫn từ Đức Phật và Phật Pháp của Đại Sư Narada Maha Thera (Tích Lan) do Phạm Kim Khánh dịch ra Việt Ngữ, xuất bản ở Hoa Kỳ năm 2545 (Phật Lịch) tức năm 2001 (Tây Lịch)./.

Lần cập nhật cuối ( Thứ tư, 17 Tháng 1 2018 20:26 )
 

Tinh thần học Phật

Email In
Share


1 - Lời dẫn

Cách đây hơn hai ngàn sáu trăm năm về trước, từ lưu vực sông Hằng của xứ Ấn, đã sản sinh cho thế giới một con người vĩ đại, con người ấy sau khi tu tập thiện hạnh, thành tựa đạo quả giải thoát với tên gọi tôn kính – Phật Đà. Người với chí nguyện đem lại lợi lạc cho đời, đã mang thông điệp của từ bi, ánh sáng của tuệ giác, chỉ đường cho con người thực tập, nhằm quy hướng thiện xứ, hướng về cội nguồn của hạnh phúc.

Lời giảng dạy của Ngài không chỉ dừng lại ở xứ Ấn mà còn lan tỏa khắp muôn phương, đồng thời những lời huấn thị của Ngài đã, đang và sẽ có giá trị rất lớn giúp ích cho cuộc đời này. Có lẽ chính vì thế, mà ngày hôm nay, mọi người tìm hiểu về giáo pháp của ngài cũng không ít. Tuy nhiên, học Phật với tinh thần như thế nào mới có ý nghĩa? Con đường thực hành giáo pháp này như thế nào mới đúng chánh pháp? Trước những vấn đề này, tác giả xin dẫn chứng một vài kinh văn trong Thánh điển, hy vọng thông qua đó chúng ta sẽ có một hướng đi đúng đắn trên lộ trình tìm về bến giác bình an.

2 - Tụng đọc và giảng giải kinh văn trọng nơi lí giải

Trong kinh “Phật thuyết xứ xứ kinh” [i] đã ghi lại câu chuyện, nội dung câu chuyện mang tải một tinh thần giáo dục rất lớn của Phật giáo. Truyện kể rằng, có một vị tỳ kheo đi khất thực, một hôm đi đến nhà vị nữ thí chủ trì bình khất thực, sau khi nhận phẩm vật cúng dường xong, vẫn như thường lệ trong tinh thần của tăng đoàn thời Phật ngày xưa, vị tỳ kheo phải có trách nhiệm giảng dạy về giáo pháp, để giúp cho vị thị chủ hiểu được giá trị của cuộc sống, từ đó tiến tu trên con đường hạnh phúc. Với trách vụ như vậy, vị tỳ kheo đã giảng pháp cho vị nữ thí chủ nghe, đáp lại vị thí chủ quỳ gối lắng nghe rất chăm chú. Nhưng hôm đó có một nhân duyên đặc thù, nữ thí chủ quỳ nghe pháp mà dòng nước mắt cứ tuôn trào từ lúc nào không hay biết, nhìn thấy nữ thí chủ sao tha thiết với Phật pháp quá, vị tỳ kheo này giảng pháp trong khoảng thời gian dài, cho đến suốt đêm, vậy mà thí chủ vẫn quỳ khóc rơi lệ thâu đêm, không muốn ngừng nghĩ. Thấy đêm đã khuya, giờ tịch tịnh đã đến, vị tỳ kheo mới nói với thí chủ rằng, từ trước đến giờ tôi giảng kinh thuyết pháp cũng nhiều, chưa thấy ai tinh tấn giống như Cô cả, và tại sao khi nghe giảng Cô lại rơi lệ như vậy? Lúc đó thí chủ bừng tỉnh, thưa rằng: Thưa thầy! Nhà con có một con cừu, đêm qua nó bị đau và kêu la rất khổ sở, sau đó nữa đêm nó chết, khi nghe pháp con nhớ lại cảnh như vậy, thấy tội và thương nó, nên dòng nước mắt cứ tuôn chảy trong con từ lúc nào không hay biết. Nghe vậy, thầy tỳ kheo mới nói, sao không nói sớm cho tôi hay, tôi cứ nghĩ chắc mình nói hay, nói đúng tâm trạng của Cô, nên cô mới khóc như vậy, cho nên tôi mới nói mà quên cả thời gian.

Câu chuyện này được truyền tụng nhau đến tai của Thế Tôn, và Ngài đã dạy rằng: Giảng kinh không cần giảng nhiều, quan trọng là có thấu hiểu những lời giảng dạy ấy hay không, những lời dạy ấy có làm sinh khởi trí tuệ hay không mới quan trọng. Thiết nghĩ nghe kinh cũng vậy, nếu nghe nhiều mà không lí giải được, không sinh khởi tuệ giác thì cũng không có ích nhiều cho việc tu học. Câu chuyện không chỉ dừng lại ở đó, mà còn tiếp tục dạy cho chúng ta những thông điệp khác: Khi nghe Thế Tôn giảng dạy không cần nghe giảng kinh nhiều, thì trong hội chúng có vị tỳ kheo mới thưa với Thế Tôn rằng: Thưa Ngài! Ngài vừa dạy không cần nghe kinh, thuyết kinh nhiều, vậy người có thể dạy cho con một pháp đơn giản, ngắn ngọn để con hành trì chứng được đạo quả. Thế Tôn liền trả lờiNhững gì thuộc của ông thì ông lấy, những gì không thuộc của ông thì ông không nên lấy. Sau khi nghe lời dạy của Phật, vị tỳ kheo đêm cũng như ngày tự chất vấn, suy tư, quán chiếu về điều này rằng: Muôn sự vạn vật trên thế gian này không gì thuộc của ta cả, thậm chí thân xác này rồi cũng sẽ tan rả, vậy cái gì là của ta chứ? Suy đi nghĩ lại vị tỳ kheo đã tìm ra đáp án, chỉ có nghiệp thức mới thuộc của ta, những nghiệp thức của chúng ta sẽ theo ta trong suốt cuộc hành trình luân hồi và chấm dứt luân hồi. Đem đáp án như vậy, vị tỳ kheo thưa với Phật, con đã hiểu đạo rồi, Phật nói vậy là ông chứng đạo rồi đấy.

Qua những lời giảng dạy trong câu chuyện đã ghi lại, chúng ta có thể suy nghiệm, việc tu học phật pháp là cần thiết. Bởi đây là chất liệu để thay đổi đời sống của chính mình, chuyển hóa đời sống khổ đau thành an lạc, chuyển hóa phiền não thành bồ đề. Tuy nhiên trong qúa trình học Phật và tu Phật, chúng ta cần phải hiểu nghĩa lý của kinh, cần phải ứng dụng lời dạy trong kinh văn vào cuộc sống, để đánh thức chúng ta giác ngộ ngay trong đời sống này. Và cũng cần nói thêm rằng, điều kiện đi đến con đường giác ngộ, không phải bắt buộc chúng ta phải tinh thông nhiều kinh văn, nhiều pháp môn, mà quan trọng là hiểu và ứng dụng pháp môn đó có tha thiết hay không, có thực sự hành trì đúng pháp hay không. Đối với pháp môn tu tập chúng ta phải dùng tâm thức như thế nào để học hỏi đây? Điều này tác giả sẽ trình bày ở phần kế tiếp

3 - Không nên chỉ trích pháp tu  lẫn nhau

Khi bàn luận về tinh thần thực hành pháp môn tu học, trong thời kì đầu của hệ thống kinh A hàm, kinh Tăng Nhất A Hàm đã ghi lại cuộc đối thoại giữa hai vị đệ tử ưu tú của Thế Tôn, đó là tôn giả Mục Kiền Liên và tôn giả A Nan.

Kinh văn đã ghi lại rằng: Một hôm hai vị tôn giả nói chuyện: Hai chúng ta đồng tụng kinh xem ai hay hơn! Lúc ấy, nhiều Tỳ-kheo nghe như vậy, bèn đến chỗ Thế Tôn và thưa: Nay có hai người bàn luận: Hai chúng ta cùng tụng kinh xem ai hay. Nghe vậy, Thế Tôn bảo một Tỳ-kheo: Ngươi đi gọi hai Tỳ-kheo ấy đến đây. Tỳ-kheo vâng lời Phật dạy, đến gọi hai vị tỳ kheo. Lúc đó, hai vị Tỳ-kheo liền đến chỗ Thế Tôn, cúi lạy rồi đứng một bên.

Bấy giờ, Thế Tôn bảo hai người: Các ngươi ngu si! Các ngươi thực có nói: Chúng ta cùng tụng kinh xem ai hay hơn không?

Hai người đáp: “Thật vậy, bạch Thế Tôn!”

Thế Tôn bảo: “Các ngươi có nghe Ta nói pháp này: ‘Hãy cạnh tranh với nhau chăng?’ Pháp như thế đâu khác bà-la-môn?

Các Tỳ-kheo đáp: “Con chẳng nghe Như Lai nói pháp này.”

Thế Tôn bảo: “Ta do không thuyết pháp này cho Tỳ-kheo, vì vậy mà các ngươi tranh hơn thua chăng? Nhưng Pháp mà Ta thuyết hôm nay là muốn có người được hàng phục, có người được giáo hoá. Tỳ-kheo nào lúc thọ lãnh pháp, hãy nhớ suy nghĩ bốn duyên, xem có tương ưng với Khế kinh, A-tỳ-đàm, Luật không? Nếu tương ưng, hãy nhớ vâng làm.”. Bấy giờ, Thế Tôn nói kệ:

Tụng nhiều việc vô ích

Pháp này chẳng phải hay

Như đi đếm số bò

Chẳng thiết yếu Sa-môn.

Nếu tụng tập chút ít

Nhưng thực hành theo pháp

Pháp này là trên hết

Đáng gọi pháp Sa-môn.

Tuy tụng đến nghìn chương

Không nghĩa đâu ích gì ?

Chẳng bằng tụng một câu

Nghe xong đắc đạo được.

Tuy tụng đến nghìn lời

Không nghĩa đâu ích gì ?

Chẳng bằng tụng một nghĩa

Nghe xong đắc đạo được.

Dẫu tại bãi chiến trường

Thắng nghìn nghìn quân địch

Tự thắng mình tốt hơn:

Chiến thắng thật tối thượng.

Thế nên, này các Tỳ-kheo, từ nay về sau chớ nên tranh tụng, chớ có tâm hơn thua. Vì sao thế? Hãy nghĩ hàng phục tất cả mọi người. Nếu Tỳ-kheo có tâm hơn thua, tâm tranh tụng nhau mà cùng cạnh tranh thì phải lấy pháp luật mà trị. Tỳ-kheo, vì thế hãy tự tu hành.”

Hai Tỳ-kheo nghe Phật nói xong, liền từ chỗ ngồi đứng lên, cúi lạy Thế Tôn sám hối: “Từ nay về sau, chúng con không làm vậy nữa. Cúi xin Thế Tôn nhận lời con hối lỗi.”

Thế Tôn bảo: “Trong đại pháp, các ngươi đã chịu sửa lỗi, tự biết có tâm cạnh tranh. Ta nhận sự hối lỗi của các ngươi. Các Tỳ-kheo, chớ nên thế nữa. Như thế, các Tỳ-kheo hãy học điều này.”

Từ nội dung dẫn chứng của kinh văn, chúng ta không khó để nhận ra rằng, tất cả pháp môn tu tập, có tác dụng giúp cho hành giả chuyển hóa khổ đau, là chất liệu để giúp chúng ta đi về con đường hướng thượng, con đường giải thoát. Ngược lại nếu những ai đem pháp môn hành trì mà chê bai, chỉ trích lẫn nhau, so sánh hơn thua lẫn nhau, có thể nói không phù hợp với tinh thần giảng dạy của Thế Tôn. Ở đây, cũng nói thêm rằng, trong bài kệ mà kinh văn ở trên đã ghi chép, lại một lần nữa cho chúng ta biết rằng, đọc tụng nhiều mà không hiểu kinh văn, không hành trì pháp, không bằng một câu mà thực hành tha thiết, có thể dẫn đến chứng ngộ giải thoát. Nội dung này cũng tương ưng với “Phật thuyết xứ xứ kinh” ở phần một đã luận bàn. Từ luận bàn của vấn đề 1 và 2, tác giả sẽ tiếp tục luận bàn về các bước học Phật, để chúng ta có thể có một tinh thần học phật thật nghiêm túc.

4 - Các bước học Phật

Kinh Tạp A Hàm số 834, ghi lại cuộc đối thoại của Đức Phật và tôn giả Xá Lợi Phất, thông qua cuộc đối thoại kinh văn đã ghi chép lại rằng, tôn giả Xá lợi Phất đã nêu lên bốn yếu tố cần thiết để hành giả tu tập đi vào dòng Thánh. Bốn yếu tố đó là: Thân cận bậc Thiện tri thức, lắng nghe Chánh Pháp, như lý tác ý và pháp tùy pháp hành (pháp thứ pháp hướng) . [ii] Đây cũng là bốn điều kiện giúp hành giả chứng đắc Huệ nhãn. Bốn điều kiện này cũng chính là các bước học Phật. Luận bàn về bốn yếu tố này, là một vấn đề lớn, đòi hỏi một thời gian dài để nghiên cứu. Ở đây, người viết chỉ đưa ra một giải thích cơ bản, hy vọng giúp chúng ta có cái nhìn toàn diện về thái độ học Phật.

Bước đầu tiên chúng ta đến học Phật, là phải thân cận thiện tri thức, bởi thiện tri thức là những người thầy, người bạn tốt có khả năng hướng dẫn mình thực tập chánh pháp, xa lìa ác pháp. Ngõ hầu hướng về đời sống an lạc và giải thoát. Đương nhiên, đối với ác tri thức thì chúng ta phải nên xa lìa, bởi gần gũi như vậy chỉ có khổ đau đến với chúng ta mà thôi.

Bước thứ hai, lắng nghe chánh pháp, chánh pháp là phương pháp giúp cho hành giả tu tập tăng trưởng thiện pháp, giác ngộ giải thoát, như pháp Tứ đế hay Nhân duyên… gọi là Chánh pháp. Đối với pháp tứ thánh đế hay những thánh pháp khác, nếu người nào dùng tâm hoan hỷ nghe, hoan hỷ tư duy, hoan hỷ thọ trì, cho đến hoan hỷ chứng đạt, như vậy mới gọi là lắng nghe Chánh pháp.[iii]

Bước thứ ba, như lý tác ý, đây là bước đi dựa trên nền tảng của bước thứ hai, tức là từ nơi lắng nghe chánh pháp, sau khi nghe xong, hành giả phải dùng nội tâm tư duy, quan sát, quán chiếu thật tánh của các pháp, để không bị tư duy sai lầm khuynh đảo chúng ta trong quá trình học Phật. Đây là bước đi thể hiện tính trí huệ đặc thù của Phật giáo.

Bước thứ tư, pháp tùy pháp hành, đây là bước đi cuối cùng trong quá trình học Phật, bước đi này là quyết định kết quả mau hay chậm của hành giả trên bước đường tìm về bến giác. Sau khi thân cận thiện tri thức, lắng nghe chánh pháp, tư duy chánh pháp, hành giả muốn đi đến con đường giác ngộ, thì tự mình phải thực hành pháp, tự mình phải là người cất bước trên đạo lộ giải thoát. Với bước thứ tư này, chúng ta có thể khẳng định rằng, đạo Phật không phải là đạo của lý thuyết suông, mà là đạo của thực hành, của những ai biết hành pháp và chứng đạt pháp.

Từ luận bàn trên, chúng ta cần phải xác định lại các bước học Phật của mình, nếu chúng ta đi theo những tiến trình như trên đã trình bày, thì con đường học Phật của chúng ta sẽ có kết quả. Bằng không thì con đường khổ đau sẽ chờ đón chúng ta.

  5 - Kết luận

Học Phật là một quá trình chuyển hóa những tâm niệm bất thiện, thành tâm niệm thiện, gột rửa những cặn bả của phiền não, đoạn trừ những kiến giải sai lầm… bên cạnh đó phải gieo trồng, và nuôi dưỡng những hạt giống thánh thiện, thực tập thiện pháp, hướng về con đường an lành. Nhưng để đi đến con đường đó có kết quả, mỗi hành giả phải biết nương vào thiện tri thức để học pháp, hành pháp và chứng đạt pháp.

Và nên ý thức rằng, mỗi pháp môn tu học là phương pháp có tác dụng hướng dẫn chúng ta làm thế nào để đoạn trừ phiền não, chứng đắc Niết Bàn tịch tĩnh, chứ không phải để so sánh, để đấu tranh, để che bai, phê phán lẫn nhau. Cũng khởi nguyên từ ý nghĩa này chúng ta nên biết rằng, khi thực hành pháp môn, cũng như trì tụng kinh văn phải chú trọng đến phương diện lí giải, chứng ngộ, chứ không coi trọng số lượng trì tụng.

Người viết thiết nghĩ, nếu chúng ta dựa vào những lời di huấn của Thế Tôn, các vị Thánh giả ở trên đã nêu, mà thực hành thì con đường học Phật sẽ sớm thành tựu. Và, con đường giác ngộ cũng sẽ chào đón chúng ta tại nơi đây.

________________________________________

[i] “Phật Thuyết Xứ Xứ Kinh” Quyển số 1, Đại Chánh Tạng 17, Trang 527.

[ii] “Kinh tạp A Hàm ” quyến 30, kinh 843, Đại chánh tạng 2, trang 215, dòng 16-21.

Có thể đối chiếu: 《相应部经典6》,《预流相应》,(5经),《汉译南传大藏经》,台湾元亨寺1995年,208-209。 D.33. Satāgītī。“Kinh Trung A Hàm” , quyển 38, Phạm chí phẩm, Kinh Man nhàn đề, Đại chánh tạng  1, trang 672, dòng 26-29. Tạng pāli M. 75. Māgandiyasuttaṃ

[iii] Quý vị có thể tìm đọc bài viết của tác giả Thích Giác Hải “ Lắng nghe chánh pháp” đăng trên Nguyệt San Giác Ngộ, số 194, 05.2012, trang 69-75.

Lần cập nhật cuối ( Thứ tư, 17 Tháng 1 2018 20:27 )
 

Thiện Tri Thức & Bát Quan Trai - TS Thích Nhất Hạnh

Email In
Share


Thiện Tri Thức


Ta cần tìm bạn, tìm thầy để học hỏi thêm về đạo Phật, và chia sẻ kinh nghiệm về sự áp dụng đạo Phật vào đời sống. Thầy và bạn là những tăng thượng duyên rất quý giá, nhờ họ mà ta có thể trao đổi kinh nghiệm, không những trong sự áp dụng đạo Phật vào đời sống tâm linh bản thân mà còn trong sự áp dụng đạo Phật vào đời sống gia đình và xã hội nữa. Chính sự trao đổi kinh nghiệm quan trọng và cần thiết hơn lý thuyết nhiều, vì vậy ta đừng nên để hết thì giờ vào sự nghiên tâm lý thuyết, học hết bộ kinh này rồi đến bộ kinh khác trong khi đó thì không biết lợi dụng những kinh nghiệm của ta và của các bạn thiện tri thức của ta để đi sâu vào sự áp dụng thực hành.

Ông Tư Siêu tự cho là học rộng, biết nhiều về đạo Phật. Ông nói ông có thể giảng giải về kinh Viên Giác, Pháp Hoa, Lăng Nghiêm. Nhưng sự học Phật của ông hình như không có lợi gì nhiều cho đời sống của ông, bởi vì ông vẫn bị dằn vặt khổ đau vì tánh tự hào, nóng giận và ganh tị. Ông không có bạn và chính trong gia đình, bà Tư và các con ông cũng không ưa ông. Chú Bảy, trái lại, tuy biết nhiều về Phật học nhưng vẫn luôn luôn tìm cách gần gũi các bậc thầy và các bạn thiện tri thức để tìm học thêm và trao đổi kinh nghiệm. Chú Bảy được mọi người yêu chuộng vì lời chú nói phù hợp với đời sống của chú: Chú luôn luôn tìm áp dụng đạo Phật vào cuộc đời một cách tự nhiên, không ồn ào, không khoe khoang.


Bát Quan Trai

Mỗi tháng một vài lần chùa tổ chức những kỳ tu Bát Quan Trai Giới, ta nên tham dự, vì đó là những cơ hội tốt cho ta tu tập, quán chiếu, học hỏi và trao đổi kinh nghiệm tu tập với các bạn hữu. BÁT QUAN TRAI GIỚI là một phương tiện lập ra để giúp người cư sĩ có cơ hội sống hai mươi bốn tiếng đồng hồ trong chùa theo chính niệm. Bát quan trai giới còn gọi là BÁT TRAI GIỚI hay BÁT GIỚI TRAI, có nghĩa là sự chấp tri (nhận giữ) tám quy luật: không giết hại, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, không uống rượu, không dùng hương phấn dầu thơm, không nằm giường cao rộng êm ái, không ăn uống phi thời. Thêm vào đó, người hành giả ăn chay nữa, vì vậy tám giới cộng với trai thực gọi là BÁT TRAI GIỚI. Những giới này giúp cho ta đóng bớt những cánh cửa phiền não tội lỗi, cho nên gọi là QUAN. Chữ QUAN trong "Bát quan trai giới" có nghĩa là cánh cửa.

Muốn tham dự bát quan trai giới phải xin ghi tên ở chùa, và hỏi thăm những thông lệ và giờ giấc. Đến giờ đã định, ta có mặt tại chùa với những dụng cụ cần thiết: bàn chải đánh răng, khăn lau mặt, xà phòng, áo quần ngủ, một cái mền (chăn) và một vài cuốn kinh sách. Ta sẽ ngủ tại chùa, cùng với các bạn khác, có khi đông đến mấy chục người. Ta sẽ sống hai mươi bốn giờ tại chùa, tập sống trong chính niệm và quán chiếu, đồng thời có dịp gặp gỡ các bậc thầy và bạn để trao đổi những học hỏi và kinh nghiệm. Chúng ta sẽ được hướng dẫn ngồi thiền, tập thở, quét nhà, cắm hoa, đọc kinh theo tinh thần chính niệm. Ta có thể học hỏi được rất nhiều trong mỗi kỳ tu học theo bát trai giới, nếu ta biết xử dụng đúng hai mươi bốn tiếng đồng hồ dành cho thời gian này. Ảnh hưởng của hai mươi bốn giờ kia sẽ được lưu lại sâu đậm trong những ngày còn lại trong tháng do đó ta nên cố gắng để có thể có thì giờ tham dự bát quan trai giới.

Chú Bảy thường đi chùa tham dự bát quan trai mỗi tháng. Tháng rồi chú đã mời được ông Sáu cùng đi. Chú khéo léo lắm mới thuyết phục được ông Sáu vì ông Sáu cứ nghĩ mình bận rộn không thể bỏ việc nhà. Ông Sáu lần đầu tiên tham dự bát quan trai, thấy mình hơi bỡ ngỡ vụng về; nhưng nhờ có chú Bảy bên cạnh nên ông cũng không cảm thấy lạc lõng. Ông Sáu công nhận rằng sống hăm mươi bốn tiếng ở chùa trong tinh thần tự tĩnh, ông đã có dịp suy gẫm về đời sống của mình và của gia đình mình. Ông cảm thấy như được đi nghỉ mát ở một nơi thật xa, tách rời hoàn toàn đời sống bận rộn thường ngày. Ông cũng cảm thấy như mình dừng lại trong một cuộc hành trình lâu ngày. Đứng trên đồi ông nhìn lại quãng đường ông đã đi qua và ông giật mình thấy rằng lâu nay ít khi ông đã nhìn lại bản thân mình, đời sống mình. Ông ít thì giờ hơn chú Bảy, nhưng ông quyết định phải thỉnh thoảng đi tham dự một kỳ bát quan trai như thế.

Nam Mô Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Lần cập nhật cuối ( Thứ năm, 11 Tháng 1 2018 17:39 )
 
Trang 2 trong tổng số 8 trang.
Bạn đang ở: Trang chủ Tuổi Trẻ - Tình Yêu Và Lý Tưởng