Bình chọn

Bạn biết đến Chùa Tự Tâm thông qua phương tiện nào?
 

Hình ảnh

  • 1256530_497479667013867_1014200401_n.jpg
  • 1289834_496972933731207_2129934441_n.jpg
  • 1305453_496972930397874_502961374_n.jpg
  • 1369081_496971993731301_1220368879_n.jpg
  • 1371508_496971997064634_1116290538_n.jpg
  • 1374406_496972943731206_2081264957_n.jpg
  • 1375658_497479367013897_1781351274_n.jpg
  • 1376863_496972950397872_816092381_n.jpg
  • 1377041_497480443680456_1164263196_n.jpg
  • 1377338_497480140347153_1549967075_n.jpg
  • img_3463.jpg
  • img_3493.jpg
  • img_3507.jpg
  • img_3521.jpg
  • img_4232.jpg
  • img_4240.jpg
  • img_4248.jpg
  • img_4346.jpg
  • img_4383.jpg
  • img_4427.jpg

Thông tin liên hệ

  • - Địa chỉ: Hẻm 426 đường Phan Bội Châu, tổ 17 khối 2, phường Thành Nhất, Tp Ban Mê Thuột, ĐăkLăk, Việt Nam
  • - Sư cô Thích Nữ Liên Tâm
  • - Email: chuatutam@gmail.com

Lịch Âm Dương

Thống kê truy cập

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay294
mod_vvisit_counterHôm qua430
mod_vvisit_counterTuần này294
mod_vvisit_counterTuần trước3225
mod_vvisit_counterTháng này9604
mod_vvisit_counterTháng trước21843
mod_vvisit_counterTất cả1330337

Có: 58 khách trực tuyến

Khai Thị

CÁI NHÌN THEO CHÁNH PHÁP

Email In
Share

Hỏi: Quan Công (Quan Vân Trường) có phải là bồ tát ? Trong chùa có nên thờ Ngài không, vì tôi thấy bây giờ có nhiều chùa thờ ngài ? Tôi cũng thấy 1 lá sớ cầu an quý thầy có sử dụng, trên đó ghi rằng: “Phục Ma Đại Đế Quan Thánh Đế Quân Bồ Tát”, không biết loại sớ này xuất phát từ đâu ? Có nên chăng sử dụng lá sớ ấy trong nghi lễ Phật giáo ?!




Đáp: Có rất nhiều người hỏi nay - chúng tôi mới đủ nhân duyên, mạn phép nêu ra đôi lời.

Cần phải thừa nhận rằng có rất nhiều ngôi chùa trên đất nước Việt Nam có thiết bàn thờ riêng, thờ Quan Công (Quan Vân Trường).

Cứ “Nhị Thập Ngũ Biệt sử” – Tục Hậu Hán Thư, quyển 16 thì Quan Vũ tự là Vân Trường.

Theo “Tam Quốc Chí diễn nghĩa” của La Quán Trung thì Quan Vũ chí là Đệ nhị đại ca trong 3 anh em kết nghĩa vườn đào (Lưu Bị, Quan Vũ và Trương Phi). Trong ba anh em, có lẽ Quan Vũ là 1 nhân vật kỳ đặc, vì hội đủ tính cách của 1 bậc “quân tử” theo tiêu chuẩn Nho gia.

Trong cuộc đời binh nghiệp của Quan Vũ, ông là 1 dũng tướng có tài năng thực thụ. Truyền thuyết “qua 5 thành chém rơi đầu 6 tướng” (quá ngũ quan, trảm lục tướng) đã chứng tỏ năng lực chiến đấu & khí chất gan dạ của Quan Vũ. Trong 1 sự kiện khác, khi Tào Tháo tạo sự nghi kỵ giữa 2 anh em là Lưu Bị và Quan Vũ, bằng cách để Quan Vũ & chị dâu (phu nhân Lưu Bị) ở chung 1 phòng. Quan Vũ đã chứng tỏ chí khí của mình bằng hành động thức suốt đêm & cầm 1 ngọn đuốc trên tay, gác cho chị dâu mình an nghỉ. Truyền thuyết và dã sử đã thêu dệt nên rất nhiều huyền tích về nhân vật lịch sử này !.

Theo tiêu chuẩn đạo đức Nho gia nói riêng và tiêu chuẩn phổ biến về đạo đức thì có thể coi Quan Vũ là 1 nhân vật có đời sống đạo đức đáng trân trọng.

Tuy nhiên, nếu chỉ dựa vào đó mà cho Quan Vũ là 1 vị Bồ tát, và đưa vào thờ trong chánh điện với vai trò là 1 vị Hộ pháp, đứng ngang hàng với các vị Hộ pháp Bồ tát khác thì vẫn chưa đủ lý do thuyết phục.

Trong trường hợp này có rất nhiều cách lý giải khác nhau. Theo chúng tôi đầu tiên:

- Dựa vào lý do bất thành văn của dân gian “Sinh làm tướng thì chết làm thần”. Vin vào lý do này, nhiều anh hùng nghĩa sĩ đã được lập đền thờ để tưởng nhớ & trong các vị thần ấy đã có 1 số vị công thần, nghĩa sĩ được thờ trong chùa.

Vì sao vậy? Vì có 1 số ngôi chùa, trước đây là đền thờ của làng, của họ tộc. Sau đó, do nhiều lý do khác nhau nên “Đền” từng bước chuyển thành “Chùa” và từ khi trở thành 1 ngôi chùa thì cố nhiên các vị thần được thờ trước đây cũng nghiễm nhiên “yên vị” trong ngôi chùa mới đó.

Điều này có thể thấy trong thực tế, vì ngoài Quan Vũ ra, có rất nhiều ngôi chùa thờ Thành hoàng, Trần Hưng Đạo, Quang Trung, Trần Thủ Độ... (chùa Bộc, chùa Cầu Đông Hà Nội)

- Ngoài ra, 1 trong những điểm đặc thù của Phật giáo Việt Nam là sự hòa quyện mạnh mẽ với tín ngưỡng dân gian trong giai đoạn sơ kỳ, cho nên có nhiều sự hòa quyện tín ngưỡng dân gian trong việc thờ phụng.

Tuy nhiên, theo Hòa thượng Khánh Anh trong tác phẩm “Phật giáo vấn đáp” (Thành hội Phật giáo Tp. Hồ Chí Minh, 1996) cho rằng:

Nhân 1 hôm ngài Trí Giả đại sư (thuộc Thiên Thai tông) đang đi tìm 1 thế đất đẹp để lập chùa. Tương truyền, vùng đất Sư đến có rất nhiều yêu quái. Thế nhưng, với đức độ của Sư, yêu quái tan mất & không còn tác quai tác quái nữa. Một đêm nọ, Sư đang ngồi thiền thì thấy có 1 người ăn mặc như các vị tướng thời xưa, đến thưa rằng:

“Tôi là Quan Vũ, là nghĩa thần của Tây Thục thời xưa, chết có công lớn nên ở núi này. Đại sư là bậc Thánh, sao nhọc gót chân ?”

Đại sư nói: “Với cuộc đất đây muốn dựng 1 ngôi chùa để đền ơn ân đức sinh thành.

Thần nói: “Đệ tử và con của đệ tử là Quan Bình, dựng chùa dâng cúng, xin giữ Pháp Phật, cầu Sư nhập định 7 ngày để đợi làm”.

Sư xuất định thấy bữa trước nơi đây là đầm sâu nghìn trượng mà nay hóa ra đất bằng, có 1 ngôi chùa mới được xây dựng.

Một thời gian sau, thần lại gặp Sư và xin nguyện thọ trì 5 giới. Từ đấy thần (Quan Vũ) đã trở thành đệ tử của Phật vậy.

- 1 giả thuyết khác, khi Quan Vũ bị Lã Mông lập mưu chém bay đầu, Quan Vũ cỡi ngựa đi tìm đầu của mình khắp nơi và Thiền sư nghe được "tiếng gọi của Quan Vân Trường" - "Trả đầu cho ta!".

- Một hôm, gặp thiền sư Phổ Tịnh (Phổ Tịch ?) chặn lại hỏi: "Ngài qua năm cửa trảm sáu tướng, giết người vô số, vậy ai trả đầu cho bọn họ?".

- Vị đại sư này sau đó đã giảng giải Phật pháp cho Quan Vũ, khiến Quan Công hổ thẹn ngộ lý nhân duyên mà xin được truyền thụ "tam quy ngũ giới", trở thành đệ tử Phật môn.

Như vậy, từ những cơ sở nên trên thì Quan Vũ chưa thể xứng tầm là 1 vị Bồ Tát. Nếu có chăng là 1 Phật tử tại gia có những hành động mang “dáng dấp” là hành trạng của 1 vị Bồ Tát. Và lẽ tất nhiên, với cương vị này, việc hộ trì Phật pháp là 1 thuộc tính kéo theo của 1 Phật tử tại gia.

Cho nên, theo quan điểm riêng của chúng tôi, nếu như ngôi chùa nào đó từ trước đến nay đã thờ Quan Vũ thì có thể xem đây là 1 vị Ưu bà tắc (Cư sĩ nam) có công hộ trì Phật pháp.

Nếu như 1 ngôi chùa nào đó chưa thiết lập bàn thờ Quan Vũ thì không nên thờ tự, vì như đã nói, ủng hộ Phật Pháp - nếu có – thì ngoài Quan Vũ ra còn có rất nhiều Thiên long bát bộ, thiện thần, thập phương bá tánh.

Nếu như phải thờ tất cả thì e không tiện, mà đã không thờ riêng từng vị thì hà cớ gì chỉ thờ riêng 1 mình Quan Vũ ???



*** Trong lá sớ cầu an mà quý Phật tử thắc mắc, thiển nghĩ đây là 1 lá sớ không chính xác trong danh xưng, tên gọi. Cho nên, trong nghi lễ Phật giáo, đặc biệt là lễ Cầu An không nên dùng loại sớ này.

Vì đây có thể coi là sự pha trộn giữa tín ngưỡng dân gian & niềm tin Phật giáo. Nhận đây, cũng cần nói thêm rằng, có 1 là sớ cúng Quan Thánh trong nghi lễ dân gian mà trong đó có câu: “Tại Nho, tại Đạo, tại Thiền, nhân nhân chiêm ngưỡng, hộ quốc, hộ dân, hộ vật, đại đại tôn sùng...” (Dù ở Nho, Phật và Đạo, ai ai cũng chiêm ngưỡng, lo cho nước, cho dân, cho vật đời đời tôn sùng).

Từ đây có thể thấy, tín ngưỡng Quan Thánh (Quan Vũ, Quan Công) là 1 tín ngưỡng dân gian NẰM NGOÀI PHẬT GIÁO. 
---

P/s: - Nhưng thay vì thờ Quan Vân Trường, mọi người có thể thờ Đức Lý Thái Tổ, Trần Hưng Đạo, Đức Nguyễn Trung Trực hoặc Đại tướng Võ Nguyên Giáp... Vì các cụ đều là tướng giỏi, đánh cho giặc chạy muốn sấp mặt!! Nếu nói về sự tài giỏi hoặc chiến công thì Bác Giáp hơn hẳn Quan Vân Trường, chẳng qua do lâu đời và do được thổi phồng và thần thánh hóa thôi!!

Nhưng lưu ý, thờ “các cụ nước mình” thì cúng khác và đặt ảnh để trang trí là khác nhau hoàn toàn nhé! Nếu lập bàn thờ thì phải cao hơn bàn thờ gia tiên nhưng thấp hơn bàn thờ Phật! Vẫn phải có bát hương, hoa, trà, quả...!

Chúc cả chùa tinh tấn và có cái nhìn đúng đắn. Còn về mặt phong thủy thì mình không tiện bàn ở đây. Nói chung là không nên chưng chơi hay thờ.


Nam Mô Phật.

Lần cập nhật cuối ( Thứ năm, 11 Tháng 1 2018 17:36 )
 

Hãy học cách sống như Nước

Email In
Share


Người xưa có câu: Nước chảy cuối dòng thành thác nước, người đến cùng đường người hồi sinh… muốn an yên, hãy học cách sống như NƯỚC.

Cuộc sống vốn không phải chỉ một màu hồng, không phải lúc nào cũng được như ý muốn. Nhưng khi ở trong gian nan ấy, chính tâm thái của chúng ta sẽ quyết định hướng nào ta đi, đích nào mà ta muốn đến, dù là đường cùng vẫn sẽ có lối cho chúng ta qua.

Con đường nhân sinh không phải lúc nào cũng bằng phẳng, trên con đường ấy rất có thể bạn sẽ gặp phải những hoàn cảnh trớ trêu bế tắc, thậm chí đưa bạn đến bước đường cùng.

Đường cùng không chỉ là một khoảng cách hay một lần thử thách, mà nó còn là một bước ngoặt, một lần tỉnh ngộ và thăng hoa, nó đến để khảo nghiệm sức chịu đựng và ý chí của con người.

Mỗi lần gặp nghịch cảnh là một lần hiểu thêm nhiều điều trong cuộc sống, là một lần biết dũng cảm vượt qua. Nếu có thể bước ra khỏi đường cùng ấy thì mọi thứ sẽ liền sáng rõ. Cũng giống như: “Sơn trùng thủy phục nghi vô lộ. Liễu ám hoa minh hựu nhất thôn” (Núi cùng nước tận cứ nghĩ rằng hết đường đi. Qua rặng liễu tối, tới khóm hoa tươi, hiện ra một thôn làng).

Nhân sinh tựa như chén nước, muốn trọn vẹn thật khó lắm thay! Cùng một chén nước, có người thấy nó vơi, nhưng có người lại thấy nó đầy.

Nếu bạn chỉ thấy chén nước vơi có nghĩa là bạn đã vứt bỏ niềm vui và đang tự dằn vặt mình rồi đó. Bí quyết của niềm vui và hạnh phúc nằm ở chỗ: Nhìn thấy chén nước dù vơi hay đầy cũng đều tận hưởng chén nước mà mình đang có.

Học được cách sống như nước sẽ khiến bản thân luôn an vui, hạnh phúc

Không tranh giành

Lão Tử nói: “Thượng thiện nhược thủy, thủy thiện lợi vạn vật, phù duy bất tranh, cố vô vưu” (Nước là tốt nhất, nước đem lại lợi ích cho muôn vật mà lại không tranh giành).

Đặc tính của nước là tồn tại vì vạn vật, không tranh giành cao thấp, cũng không tự cho mình là hiểu biết, lại không khoe khoang bản thân. Bởi vì không tranh giành nên nó không có oán hận âu lo.

Vô ngã

Đại đạo rộng lớn như mặt nước không chỗ nào không chảy đến, vạn vật đều dựa vào nó mà tồn tại, sinh trưởng, tuy nhiên, nước lại không hề chối từ trách nhiệm, đem mình kính dâng cho tự nhiên mà không đòi hỏi bất cứ sự đền đáp nào.

Hạ mình ở chỗ thấp

Hạ mình ở chỗ thấp là có thể cùng một chỗ với quảng đại quần chúng, hấp thụ thêm nhiều dinh dưỡng để làm phong phú bản thân. Cổ nhân nói: “Thiện dụng nhân giả vi chi hạ”, tức là khéo dùng người thì cần hạ mình ở dưới người.

Mềm mại

“Thiên hạ không có gì mềm mại bằng nước, mà cũng không có gì có sức công phá hơn được nước”,bởi vì mềm mỏng là thể hiện của sức mạnh sinh mệnh. Trong sách “Bão phác tử” phần ngoại thiên của tác giả Cát Hồng đã nói “Kim dĩ cương chiết, thủy dĩ nhu toàn”, có ý rằng kim loại vì cứng mà gãy, nước nhờ mềm mại mà vẹn toàn.

Vị tha

Nước được xưng là có lòng bao dung vĩ đại, bất luận là ân oán, đúng sai, vô luận là giọt nước ở sông lớn hay dòng suối nhỏ, đều có thể giống như Lâm Tắc Từ (tướng nhà Thanh) đã nói: “Hải nạp bách xuyên, hữu dung nãi đại, bích lập thiên nhận, vô dục tắc cương“ (ý nói biển lớn dung nạp trăm nghìn dòng sông, tấm lòng bao dung mới có thể trở nên vĩ đại, vách núi nghìn trượng sừng sững, không mang dục vọng thì có thể giữ mình cương trực).

Nó không cố chấp, không cao ngạo tự cao tự đại. Nước có thể lật thuyền mà cũng có thể nâng thuyền, nước có trăm điều thiện mà không một điều dối lừa, nước thật quá hữu dụng!

Lần cập nhật cuối ( Thứ năm, 11 Tháng 1 2018 17:38 )
 

Cầu nguyện có phải là mê tín hay không?

Email In
Share
(Trích pháp thoại của Thiền sư Nhất Hạnh ngày 18.03.2005, tại Học Viện Chính trị Quốc Gia Hồ Chí Minh)

Câu hỏi: Trong khi cúng lễ mình có sự cầu xin, vậy sự cầu xin đó có phải là mê tín hay không?

Thầy trả lời:

Trước hết, tôi nghĩ cầu nguyện là một hình thức truyền thông. Thờ cúng tổ tiên là mình thực tập để có truyền thông với tổ tiên mỗi ngày: Mỗi khi chúng ta thắp một cây hương và cắm lên bàn thờ của tổ tiên hay mỗi khi chúng ta thay nước bình hoa trên bàn thờ tổ tiên là chúng ta có thể tiếp xúc được với tổ tiên, không phải trên bàn thờ mà là tổ tiên trong từng tế bào của cơ thể chúng ta. Điều này rất quan trọng. Mỗi khi có việc gì đó xảy ra trong gia đình chúng ta, chúng ta có bổn phận phải báo cáo lên tổ tiên và tổ tiên có quyền được biết. Ví dụ như chúng ta gả con gái cho một anh chàng ở làng bên hoặc chúng ta gởi con trai vào trường đại học, tổ tiên cũng phải biết những điều đó. Thắp một cây hương, dâng một cành hoa trên bàn thờ, đó là một hành động truyền thông, không có gì là mê tín hết và bàn thờ có nghĩa là trái tim của chúng ta.

Vì không có truyền thông cho nên xã hội ngày nay đã tạo ra không biết bao nhiêu là ma đói. Cha không truyền thông được với con, vợ không được truyền thông với chồng. Người trẻ không cảm thấy gia đình là tổ ấm hạnh phúc nên đã không tin vào gia đình. Nếu không tin vào gia đình, không tin vào cha mẹ thì làm sao tin được vào tổ tiên? Xã hội chúng ta ngày nay, mỗi ngày tạo ra hàng trăm, hàng ngàn những con ma đói. Những con ma bằng thịt, bằng xương đàng hoàng, họ đi bơ vơ trong cuộc đời, họ không cảm thấy có chút gì dính líu tới gia đình, tới truyền thống, tới tổ tiên. Đó là những con người rất đói, họ không biết họ thuộc vào một truyền thống, một gia đình, một nền văn minh nào. Họ khước từ tất cả những truyền thống, những cơ cấu, những cấu trúc xã hội mà họ đang có. Tại vì họ đã từng đau khổ nhiều vì những cái đó, vì gia đình, vì học đường, vì nhà thờ, vì chùa, vì xã hội, cho nên họ trở thành những con ma đói.

Nhìn quanh, chúng ta sẽ thấy có rất nhiều ma đói, ở Tây phương cũng như ở Đông phương. Họ đói cái gì? Họ đói hiểu, đói thương, họ cảm tưởng rằng không ai hiểu, không ai thật sự thương họ, từ cha mẹ cho đến bạn bè, anh em, tổ tiên, giòng họ. Họ hoàn toàn mất gốc. Ðó là hiện tượng phóng thể (Aliénation). Phóng thể tức là không còn thấy dính líu tới cái gì nữa. Chúng tôi gọi đó là những con ma đói. Những con ma đói không phải là những linh hồn đi vất vơ, vất vưởng trên mây mà là những con người bằng xương bằng thịt ngày hôm nay. Chúng tôi đã từng gặp rất nhiều những con ma đói như vậy. Chúng tôi đã đem tuệ giác và pháp môn của đạo Phật để cứu những con ma đói đó, đưa họ về với gia đình, với truyền thống, với nền văn hóa của họ.

Khi nhìn những con ma đói, chúng ta có thể nhận diện họ dễ dàng: Cách họ đi, cách họ nhìn, cách họ làm một cái gì đó cũng đủ chứng tỏ họ là một người không có gốc rễ, không có một dính líu gì với xã hội, với nền văn minh và với cấu trúc gia đình này. Tuy họ đói tình thương, đói hiểu biết nhưng giá như chúng ta đem tình thương, đem hiểu biết để tặng họ thì họ cũng không tiếp nhận được, tại vì họ có nỗi nghi ngờ rất lớn. Dù mình có tình thương, có hiểu biết đích thực  hiến tặng cho những người đó, họ vẫn còn nghi ngờ. Vì vậy muốn giúp những con ma đói đó chúng ta phải có rất nhiều kiên nhẫn.

Chúng tôi đã đi ngang qua những kinh nghiệm đó, chúng tôi đã từng giúp những con ma đói gốc Âu châu, gốc Mỹ châu, gốc Phi châu, trung Á và Á đông. Bây giờ xã hội Á đông cũng đã bắt đầu sản xuất rất nhiều những con ma đói, những thanh niên và những thiếu nữ bơ vơ trong cuộc đời. Những con ma đói đó không có được sự truyền thông với gia đình, với truyền thống, với tổ tiên, với xã hội. Nếu họ cầu nguyện được tức là họ có thể nói chuyện được. Ví dụ như khi họ nói: Lạy các vua Hùng, chúng con rất đội ơn các vua Hùng đã dựng nước, đã giữ nước để cho chúng con hôm nay có một giang sơn.Nói như vậy tức là đã truyền thông rồi, mà nếu truyền thông được thì không còn bị bế tắc và người đó sẽ khỏi bệnh, không mắc bệnh tâm thần. Cho nên quý vị đừng vội vàng cho những lời cầu nguyện, những lời cầu xin đó là mê tín. Những bà cụ, những phụ nữ, những thiếu niên, thanh niên đó, nếu họ còn cầm được cây hương, cầu nguyện được với tổ tiên, tức là họ còn nói chuyện, còn truyền thông được. Chính cái đó giữ cho họ không bị bệnh tâm thần, không bị bệnh bế tắc. Chúng ta phải cẩn thận lắm mới được. Nếu thực sự có tình thương và sự hiểu biết lớn, chúng ta sẽ dung nạp được tất cả, chúng ta sẽ không vội vàng gán cho họ cái nhãn hiệu mê tín dị đoan.

Khi chúng ta có một đứa cháu bị ốm nặng, chúng ta cần phải lo nhiều chuyện. Chuyện thứ nhất là chúng ta gọi điện thoại cho bác sĩ. Chuyện thứ hai là chúng ta có thể nấu cháo cho cháu. Chuyện thứ ba chúng ta có thể làm là đốt một cây hương trên bàn thờ tổ tiên và cáo với tổ tiên là: Cháu đang bệnh nặng, xin tổ tiên ông bà phù hộ cho cháu. Đốt một cây hương trên bàn thờ tổ tiên để cầu sự che chở cho cháu, tôi nghĩ không là một sự mê tín. Ta thấy rằng: Tổ tiên không phải ở ngoài chúng ta, không phải ở trên bàn thờ mà tổ tiên ở trong từng tế bào cơ thể chúng ta. Đã biết bản chất của tổ tiên là không sinh, không diệt mà chúng ta lại nói tổ tiên không còn nữa thì đó là một sai lầm. Tổ tiên đang có mặt đích thực trong từng tế bào của cơ thể chúng ta vì vậy chúng ta có thể đối thoại, có thể nói chuyện với tổ tiên. Khi mà chúng ta nói với tổ tiên:Cháu nó ốm rất là nặng, xin ông bà, xin tổ tiên che chở cho cháu là chúng ta đánh động đến sự có mặt của tổ tiên trong từng tế bào cơ thể chúng ta và cơ thể cháu. Nếu chúng ta lắng nghe cho kỹ, chúng ta sẽ thấy có sự đáp ứng của tổ tiên.

Có lần một phụ nữ, người Tây phương tới khóa tu trong tình trạng có bệnh cancer (ung thư), trong lúc buồn chán, tuyệt vọng có tiết lộ cho chúng tôi biết rằng bà có ông nội sống đến chín mươi sáu tuổi. Tôi nói với phụ nữ Tây phương đó nên cầu nguyện với ông nội đi: Ông nội ơi giúp con! Con biết là ông nội đang có mặt trong từng tế bào cơ thể của con, ông nội giúp con đi! Con biết ông nội có một sức khỏe rất vững chãi. Con biết là những tế bào của ông nội đang có mặt trong tế bào của con. Tôi chỉ hướng dẫn cho người phụ nữ Tây phương đó cầu nguyện như vậy, cầu nguyện với ông nội của mình đã sống đến chín mươi sáu tuổi. Sau một thời gian cố gắng thì căn bệnh cancer của phụ nữ đó đã lành.

Mình đánh động được sự có mặt của ông nội trong từng tế bào cơ thể, mình tiếp xúc được và ông nội có thể đáp ứng được, tại vì những tế bào rất tốt, rất khỏe mạnh của ông nội cũng có mặt ở trong từng tế bào của chúng ta. Chúng ta biết những gen mà tổ tiên để lại trong từng tế bào đang chờ đợi nếu có điều kiện thích ứng thì nó phát hiện, nếu không có những môi trường thuận lợi thì nó không phát hiện. Chúng ta ai cũng có những gen của bệnh tâm thần nhưng nếu chúng ta sống trong môi trường tốt, gen của tâm thần sẽ không bao giờ xuất hiện. Vì vậy vấn đề môi trường rất là quan trọng, đó là vấn đề hậu thiên. Tiên thiên (gen di truyền) có đó nhưng phải có hậu thiên (môi trường thuận lợi) mới có cơ hội phát hiện.

Có một hôm, tôi ngồi thiền, bỗng nhiên tôi thấy trong người rất khỏe và tôi nói chuyện với bố tôi. Tôi nói: Bố ơi, hai bố con mình đã thành công rồi! Tôi nói chuyện như vậy và tôi cảm thấy hạnh phúc của tôi lớn lao vô cùng. Quý vị hỏi thành công ở chỗ nào? Tôi sẽ nói: Trong giây phút ngồi thiền đó tôi cảm thấy hoàn toàn được tự do, tôi không còn một ước mơ nào nữa hết, tôi không còn một dự án nào phải theo đuổi nữa hết. Tôi thấy hoàn toàn thảnh thơi, hoàn toàn tự do, không có một cái gì lôi kéo được mình nữa. Mình ngồi yên như núi Tu Di, rất vững chãi, rất thảnh thơi. Sự thành công đây là tự do, tự do lớn. Mình không bị một hận thù hay một tham vọng nào kéo mình đi được nữa. Tại vì mình đã có được tự do, mình đã có được giải thoát.

Trước kia, bố tôi đã từng làm việc ở trong chính phủ Nam triều, đã có những lúc lên, lúc xuống và cũng đã từng đi tìm sự an bình của tâm hồn, cũng đã từng niệm Phật, tụng kinh nhưng chưa thành công. Đến đời tôi, tôi thực tập thành công. Tôi thấy rõ ràng là mỗi ngày mình đều được làm cái việc mình thích, mình được bước những bước chân thảnh thơi. Mỗi bước chân đưa mình tiếp xúc được những mầu nhiệm của sự sống, có tính cách nuôi dưỡng, trị liệu. Mỗi ngày mình tiếp xúc được với những mầu nhiệm sự sống bằng mắt, bằng tai. Mỗi ngày mình có thể trao truyền được những gì đẹp nhất, hay nhất, quý nhất mà mình chế tác được trong đời sống tu tập của mình cho những người đệ tử xuất gia và tại gia.

Tổ chức được những khóa tu cho người cư sĩ giúp cho họ thiết lập lại được truyền thông đem lại được sự hòa giải, nở lại được nụ cười. Những điều đó là những điều đưa lại cho chúng tôi rất nhiều hạnh phúc. Mỗi ngày đều được làm những gì mình thích thì mình đâu cần cái gì nữa. Mỗi hơi thở, mỗi bước chân, mỗi nụ cười, mỗi cái nhìn đều đem lại hạnh phúc thì rõ ràng mình không còn tham vọng, hận thù nào hay vướng mắc nào nữa. Đó là sự thành công của người tu cho nên tôi mới nói chuyện với bố là: Bố ơi, cha con mình đã thành công rồi! Bởi vì con thành công tức là bố thành công. Ngày xưa bố cũng niệm Bụt, cũng tụng kinh nhưng bố không thành công, chưa thành công nhưng con bây giờ có cơ hội làm thành công được. Như vậy, thành công cũng là thành công cho bố. Khi mình nói chuyện với bố như vậy thì đó là sự truyền thông, sự thông thương.

Tôi xin quý vị hiểu cho, nếu những người thực tập cầu nguyện, cầu xin chưa có được tuệ giác: Đối tượng cầu xin với chủ thể cầu xin là một. Nhưng trong hiện tại, họ đang có thể truyền thông được với tổ tiên tâm linh hay là tổ tiên huyết thống của họ, chính cái đó giữ cho họ không bị bệnh tâm thần. Khi mình còn nói chuyện được, dù nói chuyện với tổ tiên huyết thống tức ông bà hay tổ tiên tâm linh tức Phật, Bồ Tát hay các vị Tổ sư là còn có sự thông thương, mình chưa bị phóng thể, mình chưa bị mất gốc. Chúng tôi thấy rằng sự truyền thông đó rất quan trọng và mình đừng vội cho đó là mê tín.

Khi chúng ta đến đền Hùng hay đưa những người trẻ lên thăm đền Hùng, đó là một sự thực tập truyền thông tiếp xúc với tổ tiên. Chúng ta thấy hình ảnh cụ Hồ, hình ảnh của một trong những vị tổ tiên còn trẻ ở những nơi gặp gỡ. Khi mình tiếp xúc được với cụ Hồ là mình cũng có thể tiếp xúc được với Lý Thường Kiệt, với Trần Hưng Ðạo, với các vua Hùng. Phải có truyền thông chúng ta mới không bị bệnh, không bị mất gốc. Số người bị bệnh tâm thần ở trong xã hội chúng ta hôm nay rất đông mà nguyên do sâu sắc nhất là bị mất gốc, là phóng thể, là không còn truyền thông được với cha mẹ, với tổ tiên, tổ tiên huyết thống và tổ tiên tâm linh. Thực tập như thế nào để giữ được truyền thông, tái lập được truyền thông rất là quan trọng. Trong đạo Phật chúng ta có rất nhiều phương pháp cụ thể để giúp tái lập truyền thông giữa cha mẹ, con cái, giữa vợ chồng và giữa mình với tổ tiên huyết thống và tổ tiên tâm linh.

Chúng tôi đã thiết lập ra sự thực tập: Ba cái lạy và năm cái lạy. Người Tây Phương đã thực tập và đã chữa trị được nhiều nỗi cô đơn, bức xúc và giúp cho họ thiết lập lại truyền thông với truyền thống của họ và với gia đình họ. Quý vị hãy tưởng tượng một khu đồi rất lớn và năm ngàn người Châu Âu thực tập lạy xuống dưới sự hướng dẫn của một thầy gốc Việt Nam. Khi họ lạy xuống như vậy, đầu, hai tay, hai chân của họ dính vào đất, chúng ta gọi là ngũ thể đầu địa 5*. Họ buông hết ra những giận hờn, những tuyệt vọng để cho đất ôm lấy họ, họ tiếp xúc được với tổ tiên. Họ được hướng dẫn rằng: Tổ tiên có mặt trong từng tế bào của cơ thể và tất cả những đức tính của tổ tiên luân lưu trong dòng máu của họ. Với sự hướng dẫn của một thầy hay là một sư cô, họ có thể nằm trong tư thế phủ phục hai ba phút để quán chiếu, để thấy rõ ràng rằng họ có gốc rễ và họ tiếp xúc được với tổ tiên tâm linh, tổ tiên huyết thống. Khi họ đứng lên thì họ đã trở thành một con người khác, họ buông bỏ tất cả những hận thù, tuyệt vọng, giận hờn và họ tiếp xúc được với tổ tiên của họ.

Chúng tôi xin đề nghị, nếu có dịp quý vị nghiên cứu ba cái lạy, năm cái lạy mà chúng tôi chế biến từ những nguyên liệu trong kho tàng giáo lý đạo Phật. Chúng tôi đã chế tác ra để giúp cho những người Tây Phương móc nối được, tiếp nối được với tổ tiên huyết thống của họ. Chúng tôi có sáng tác ra lời cầu nguyện đầu năm cho người Tây phương vào ngày tết Tây. Thay vì mở nút chai champagne và chơi nhạc, họ có thể đốt hương, đứng chắp tay trước bàn thờ tổ tiên, đọc bài cầu nguyện và hứa với tổ tiên là trong năm mới họ sẽ sống một cuộc sống vững chãi hơn, thảnh thơi hơn. Ở đây chúng tôi chỉ có một lời cầu nguyện mà chúng tôi sáng chế cho các thầy các sư cô mỗi khi có buổi giỗ Tổ. Tổ này là Tổ tâm linh.

Lời cầu nguyện:

Chúng con tăng thân xuất gia, hôm nay vào ngày giỗ sư tổ, tập hợp tới chùa, kính cẩn trình diện trước Tổ đường với tất cả lòng dạ chí thành của chúng con. Cúi xin các thế hệ Tổ Sư của chúng con từ bi chứng giámChúng con ý thức được rằng cây có cội nước có nguồn, chúng con biết Bụt và các thế hệ Tổ sư là cội nguồn của chúng con và chúng con là sự tiếp nối của liệt vị.

Chúng con nguyện tiếp nhận tuệ giác từ bi và an lạc mà Bụt và chư Tổ đã trao truyền, nguyện nắm giữ và bồi đắp không ngừng gia tài tâm linh quý giá ấy. Chúng con nguyện tiếp tục thực hiện chí nguyện độ sinh của quý vị, nguyện chuyển hóa những khổ đau trong chúng con, giúp được người đương thời chuyển hóa những khổ đau của họ và mở ra cho những thế hệ tương lai những pháp môn thích hợp có khả năng giúp họ đem đạo Bụt áp dụng được vào trong mọi lãnh vực của sự sống.

Chúng con nguyện thực tập để sống an lạc ngay trong giờ phút hiện tại để nuôi dưỡng chất liệu vững chãi và thảnh thơi trong chúng con và để giúp được những người chung quanh. Chúng con nguyện nhìn nhận nhau là anh chị em trong một gia đình tâm linh, bởi vì chúng con biết rằng tất cả chúng con đều là con cháu tâm linh của liệt vị. Chúng con nguyện sẽ chăm sóc cho nhau để thấy được những khó khăn và khổ đau của nhau để hiểu để thương và để giúp nhau trong công trình chuyển hóa.

Chúng con xin hứa sẽ tập sử dụng các hạnh ái ngữ và lắng nghe để nuôi dưỡng tình huynh đệ trong tăng thân. Nguyện chấp nhận sự soi sáng của tăng thân để nhận diện những khả năng cũng như những yếu kém của mình mà vun trồng hoặc chuyển hóa. Nguyện xóa bỏ mọi tỵ hiềm để có thể nương vào nhau mà đi lên trên con đường thành tựu đạo nghiệp. Chúng con biết chỉ khi nào chúng con làm được như thế thì chúng con mới xứng đáng là con cháu của Bụt và các vị Tổ sư. Chúng con cúi xin sư Tổ cùng tất cả các liệt vị Tổ sư từ bi chứng minh cho tâm thành kính và hiếu thảo của chúng con, những phẩm vật quý giá nhất của sự cúng dường trong ngày gi Tổ.

Khi chúng ta cầu nguyện như vậy thì làm gì có chất mê tín ở trong đó. Chúng ta chỉ truyền thông với tổ tiên tâm linh hoặc là tổ tiên huyết thống của chúng ta mà thôi. Chúng ta hứa với tổ tiên tâm linh và huyết thống là sẽ thương yêu nhau và chấp nhận nhau, tha thứ cho nhau. Đó là thứ truyền thông giúp cho tinh thần chúng ta được khỏe mạnh.

Tôi nghĩ rằng nếu trong mỗi gia đình Việt Nam, chúng ta duy trì được bàn thờ tổ tiên và mỗi ngày dành ra một phút để cha mẹ, con cái cùng đứng trước bàn thờ đó thắp một cây hương, chúng ta không cần nói gì hết cũng được, im lặng trong một phút. Cái đó đủ giúp cho chúng ta không lâm vào tình trạng mất gốc và phóng thể. Tôi nghĩ bàn thờ tổ tiên chứng tỏ chúng ta tin vào truyền thống, tin vào tổ tiên của chúng ta. Chúng ta như là cây có gốc, sông có nguồn và chúng ta sẽ không bao giờ đánh mất chúng ta. Chúng ta luôn luôn mang tổ tiên đi vào tương lai.

Lần cập nhật cuối ( Thứ năm, 11 Tháng 1 2018 17:41 )
 

Thần thông không chống được nghiệp lực

Email In
Share


Thần thông không chống được nghiệp lực.

Trong số 16 vị đệ tử công hành siêu việt của Đức Phật, Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên là hai nhân vật xuất sắc nổi bật nhất. Nói đến trí huệ của Xá Lợi Phất và thần thông của Mục Kiền Liên, thì ai ai cũng đều phải công nhận rằng không có vị đệ tử nào khác có thể so sánh được với hai ngài, chính Đức Phật cũng thường hay khen ngợi những thành tựu thù thắng ấy của hai ngài.

Hai ngài là bạn thân với nhau từ lâu, thường hay cùng nhau đi lại trong những cảnh giới cõi trời, cõi người và cả địa ngục hay súc sinh, vận dụng thần thông và trí huệ để giải cứu những người đang gặp khổ nạn và giáo hóa những chúng sinh ngu si.

Có một hôm, hai vị đi tới địa ngục vô gián, nhiệt độ trong ngục rất cao giống như một lò than hồng, ngọn lửa bốc lên phừng phực, hơi nóng từ vạc dầu sôi tỏa ra không ngừng, bao phủ cả địa ngục. Những người chịu tội hình thì kêu la than khóc, Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên bèn rưới nước mưa pháp thanh tịnh cho họ, khiến những thống khổ của họ tạm dừng được trong chốc lát.

Lúc ấy có một tội nhân rất dễ sợ, thân hình to lớn kệch cỡm, còn cái lưỡi thì vừa rộng vừa dài, bên trên có 500 lưỡi cày bằng sắt cày lên trên ấy như cày trên một thuở ruộng hoàn toàn hoang dã, khiến máu tươi từ lưỡi nhỏ xuống từng giọt, từng giọt. Người tội nhân này thấy Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên thì mừng rỡ như bắt được báu vật, vội vàng chạy đến cầu khẩn:

– Bạch hai vị tôn giả, con tên là Bộ Lợi Nã, lúc còn sống con là nhà truyền bá tà giáo, chuyên môn thuyết tà pháp và phỉ báng Tam Bảo, nên hôm nay phải chịu khổ báo này. Giả như hai vị có đi Nam Thiệm Bộ Châu, xin nói với môn đồ của con đừng lễ bái cái tháp gỗ nơi họ thờ phụng con nữa, điều đó làm cho tội báo của con ngày thêm nặng nề, đồng thời nói với họ đừng phỉ báng Tam Bảo, đừng lấy tà giáo mà lừa gạt chúng sinh nữa, để họ đừng dẫm theo bước chân của con mà đọa lạc xuống nơi này.

Hai vị tôn giả ra khỏi địa ngục vô gián, và trở về thành Vương Xá, trên đường về thì gặp một nhóm ngoại đạo, trên tay người nào cũng cầm võ khí như cây, gậy gỗ v.v… Những người này chuyên môn chận đường những người xuất gia đi ngang qua đấy và còn nhục mạ, đánh đuổi họ nữa.

Xá Lợi Phất đi trước, thấy họ vung gậy lên toan đánh, bèn dùng lời hòa nhã để ngăn họ, thì những ngoại đạo ấy tuy ngừng tay lại nhưng vẫn dùng tia mắt hung dữ nhìn tôn giả đi quạ Nhưng đến khi Mục Kiền Liên tiến đến thì họ lại vung võ khí trở lên trở lại.

– Đợi một chút, Mục Kiền Liên đưa tay lên chận lại, chúng ta vừa từ địa ngục vô gián lên, gặp sư phụ của các người là Bộ Lợi Nã ở trong ấy đang chịu những khổ báo cực kỳ nặng nề, lưỡi ông ấy bị cày bằng cày sắt, máu tươi dầm dề, khổ sở không bút nào tả xiết. Ông ấy nhờ ta chuyển lời đến cho các người, hãy ngừng hủy báng Tam Bảo, không được tuyên thuyết tà pháp, và mong không có ai dẫm lên bước chân của ông ấy, đồng thời đừng lễ bái tháp gỗ nữa, để cho ông được bớt khổ một chút.

Mục Kiền Liên vì lòng tốt mà nói lại cho họ nghe lời của thầy họ, nghĩ rằng điều ấy có thể làm cho họ hối lỗi và giải tỏa những oan khiên giữa đôi bên lúc ấy. Nào ngờ lời chưa dứt, bọn ngoại đạo đã hung bạo ùa tới như một bầy hổ sói bao quanh ngài tấn công:

– Đánh hắn! Hắn dám phỉ báng sư phụ của chúng ta! Đánh hắn! Đánh tên sa môn này đi!

Nào cây nào gậy tới tấp như mưa rơi lên thân của Mục Kiền Liên, ngài bị đánh đến nỗi thương tích đầy người.

Mục Kiền Liên, bậc đệ nhất thần thông, thần lực bất khả tư nghì, đã từng dùng ngón chân ấn lên cung điện của trời Đế Thích làm cung điện này giao động và sụp đổ nữa, vậy thì tại sao ngài lại không đem sức thần thông ấy ra đối phó khi bị ngoại đạo bao vây đánh đập? Lúc ấy chiến thắng một vài ngàn ngoại đạo không phải là dễ dàng như trở bàn tay sao?

Mục Kiền Liên tôn giả dùng thần thông chống đỡ tấm thân đầy thương tích vào thành khất thực, trở về tinh xá dùng cơm, xếp đặt lại y bát gọn gàng xong đến gặp Đức Phật, đi nhiễu xung quanh Thế Tôn lễ bái và thưa:

– Con vừa mới trả xong nợ tội, không lâu nữa Xá Lợi Phất sẽ nhập Niết Bàn, chúng con là hai người bạn thân nhất trong thế giới loài người, con nghĩ mình phải đi theo ngài. Xin Thế Tôn từ bi tha thứ cho đệ tử!

Mục Kiền Liên với tâm cung kính chân thành nhất đi nhiễu xung quanh Đức Phật ba vòng theo chiều tay phải, sau đó ngài trở về quê từ biệt gia đình bạn hữu và độ hóa cho những người có duyên với ngài, rồi lên núi Kỳ Xà Lê tiến nhập Niết Bàn.

Giữa tăng đoàn, Đức Phật kể lại cho chúng đệ tử nghe chuyện “đánh một thả một”, tức là chuyện kiếp xưa của Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên:

Ngày xưa có hai vị tu đạo một hôm đi qua ngôi làng nọ, thì có một bọn trẻ con ngu si trong làng, thấy hai vị từ xa đi tới, tâm liền loạn động, chúng bàn tính với nhau nên làm khó dễ hai vị ấy như thế nào.

– Chừng nào thì khí hậu mới trở lạnh?

Bọn trẻ du côn kia chắn ngang giữa đường hỏi vị tu đạo đầu tiên mới đi ngang.

– Không kể xuân hạ thu đông, hễ ngày nào có gió có mưa thì cảm thấy lạnh.

Vị tu đạo cười đáp. Bọn trẻ nhường cho vị ngày đi qua đường nhưng lại vội vã chận đường trở lại, cản không cho vị tu đạo thứ hai đi tiếp và lại hỏi:

– Bao giờ trời trở lạnh?

– Mùa đông thời tiết lạnh lẽo, mặt trời mặt trăng cùng tinh tú xoay chuyển là điều tự nhiên, xuân hạ thu đông bốn mùa, đến mùa đông thì lạnh, đó là định luật tự nhiên của trời đất, ai ai cũng biết điều đó, chỉ có đứa ngu mới không biết.

Bọn trẻ nghe thế, nhặt đá dưới đất và thi nhau ném vào người vị tu đạo thứ hai. Vị tu đạo thứ nhất chính là Xá Lợi Phất, và vị thứ hai là Mục Kiền Liên. Chuyện xảy ra giống như ngày hôm nay vậy.

Nói tới đây, Đức Phật biết có rất nhiều người, thấy Mục Kiền Liên gặp nạn như thế bèn sinh lòng nghi ngờ đối với thần thông, vì thế Ngài nói tiếp:

– Các ông chớ nên nghi ngờ, diệu dụng của thần thông không phải là một điều hư dối, nhờ thần thông tôn giả có thể lên trên trời, chui xuống lòng đất, biến hóa khôn lường, tự do tự tại không có chướng ngại. Mục Kiền Liên có sức mạnh bất khả tư nghì như thế. Tôn giả cũng không hề mất thần thông của mình, chỉ vì khi nào nghiệp lực hiện tiền thì Mục Kiền Liên biết rằng đã có nợ thì phải trả cho hết. Đến Như Lai còn không đi ngược lại luật nhân quả được, người nào cũng thế, khi nào nghiệp báo tới thời trổ quả thì chỉ có cúi đầu mà nhận chịu thôi. Thuận theo nhân quả mới phù hợp với lý tính của chư pháp. Vì thế mọi người nên vui vẻ mà chấp nhận nghiệp báo, đừng nên trốn tránh, cũng không nên oán hận nó. Cũng vì thế, mọi người nên biết rõ rằng nghiệp báo rất đáng sợ mà tinh tiến tu hành, cẩn thận mỗi hành vi của chính mình, dựng một bức tường xung quanh thân khẩu ý mà phòng ngừa. Mục Kiền Liên hiểu rõ giáo pháp của ta một cách chân chính, tôn giả rất giỏi thần thông nhưng không dùng thần thông để che đậy cho tội lỗi của mình.

Mục Kiền Liên bị nạn là một tấm gương sáng, là một bài học rất tốt cho chúng ta chiêm nghiệm.

Lần cập nhật cuối ( Thứ năm, 11 Tháng 1 2018 18:27 )
 
Trang 2 trong tổng số 6 trang.
Bạn đang ở: Trang chủ Khai Thị