Bình chọn

Bạn biết đến Chùa Tự Tâm thông qua phương tiện nào?
 

Hình ảnh

  • 1256530_497479667013867_1014200401_n.jpg
  • 1289834_496972933731207_2129934441_n.jpg
  • 1305453_496972930397874_502961374_n.jpg
  • 1369081_496971993731301_1220368879_n.jpg
  • 1371508_496971997064634_1116290538_n.jpg
  • 1374406_496972943731206_2081264957_n.jpg
  • 1375658_497479367013897_1781351274_n.jpg
  • 1376863_496972950397872_816092381_n.jpg
  • 1377041_497480443680456_1164263196_n.jpg
  • 1377338_497480140347153_1549967075_n.jpg
  • img_3463.jpg
  • img_3493.jpg
  • img_3507.jpg
  • img_3521.jpg
  • img_4232.jpg
  • img_4240.jpg
  • img_4248.jpg
  • img_4346.jpg
  • img_4383.jpg
  • img_4427.jpg

Thông tin liên hệ

  • - Địa chỉ: Hẻm 426 đường Phan Bội Châu, tổ 17 khối 2, phường Thành Nhất, Tp Ban Mê Thuột, ĐăkLăk, Việt Nam
  • - Sư cô Thích Nữ Liên Tâm
  • - Email: chuatutam@gmail.com

Lịch Âm Dương

Thống kê truy cập

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay133
mod_vvisit_counterHôm qua463
mod_vvisit_counterTuần này3777
mod_vvisit_counterTuần trước4258
mod_vvisit_counterTháng này14035
mod_vvisit_counterTháng trước15239
mod_vvisit_counterTất cả1413700

Có: 31 khách trực tuyến

Khai Thị

Bao dung càng lớn hạnh phúc càng nhiều

Email In
Share

Người một nhà bao dung càng lớn thì hạnh phúc càng nhiều; giữa vợ chồng bao dung càng lớn thì tình cảm càng thắm thiết; giữa hàng xóm với nhau, bao dung càng lớn thì càng dễ sống; giữa bạn bè bao dung càng lớn thì tình hữu nghị càng bền vững; giữa đồng nghiệp với nhau, bao dung càng lớn thì sự nghiệp càng thuận lợi…

Cuộc sống không phải là chiến trường, không cần phải so sánh cao thấp. Giữa con người với nhau, càng hiểu về nhau hơn thì càng giảm thiểu sự hiểu lầm; dùng tâm đối đãi nhau, thêm một phần bao dung thì giảm đi một phần tranh chấp.

Con người thường cho mình là quan trọng nhất nên hay lo chuyện được mất hơn thua, không nên đem kiến thức và cách nhìn của mình để bình luận người khác, kỳ thật tâm rộng bao nhiêu thì hạnh phúc bấy nhiêu; bao dung càng lớn, đạt được càng nhiều.

Không nên nói sau lưng người khác, cũng không nên lo ngại bị nói sau lưng. Khi một người không có gì thì không ai nói, còn người càng xuất sắc thì bị nói càng nhiều. Trên đời không có việc gì mà không bị bình luận, cũng không có ai không bị người khác bình luận. Có một số việc cần phải nhẫn, không nên tức giận; có một số người cần phải nhường không nên quá hơn thua. Miệng lưỡi chịu thiệt chút có sao đâu, nhường họ ba tấc lưỡi thì mình bị gì sao? Nước sâu thì phẳng lặng, người chững chạc thì ít nói. Học hiểu nói chuyện tâm tư, học cách nhẫn nhịn đối diện sự bất mãn.

Làm người: chỉ cầu cho mình được một nửa còn một nửa kia cho đi; làm việc: chỉ cầu một nửa còn một nửa kia để tùy duyên. Mọi việc không nên quá cầu toàn vì cầu toàn sẽ không còn lối thoát. Đối nhân xử thế không được quá hà khắc vì quá hà khắc sẽ không còn bạn bè. Phải biết nhún nhường, phóng khoáng khẳng khái; phải biết bao dung, hào phóng, rộng lượng.

__()__ Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật __()__

Lần cập nhật cuối ( Thứ năm, 11 Tháng 1 2018 18:46 )
 

Đừng chờ đến lúc khát mới đào giếng

Email In
Share

Hòa thượng Tuyên HóaMình cần phải niệm Ðức A Di Ðà Phật tới độ là coi Ngài như sư phụ của mình, xem Ngài Quán Thế Âm Bồ-tát như là người bạn của mình. Nếu như được làm đệ tử của Phật, làm bạn của Bồ-tát, trải qua nhiều năm tháng, tự nhiên mình cũng sẽ trở thành bạn thân của các vị đó. Như vậy thì chư Phật Bồ-tát sẽ tiếp dẫn mình về thế giới Cực-lạc vào phút cuối cùng. Quý-vị đừng nên hồ nghi...

Ai bảo mình lúc chưa bịnh,
toàn làm việc hồ đồ,
không biết lo gìn giữ thân.
Bịnh hậu thủy tri thân thị khổ,
Tử hậu phương tri thác dụng tâm.
Nghĩa là:
Bịnh rồi mới biết thân nầy khổ,
Chết xong mới rõ lầm dụng tâm.

Ðây là bịnh thông thường của chúng sinh: Khi chưa bịnh thì thế gian nầy thật hết sức sung sướng và đầy đủ. Ðến khi bịnh, không động đậy được, không ăn uống được, mất hết tự do, chịu đủ thứ thống khổ khó nhẫn, lúc đó mới biết rằng nguyên nhân cái khổ là do thân nầy mà ra. Nhưng lúc biết vậy thì đã quá trễ. Nên nói:

Lâm nhai lạc mã thu cương vãng.
Thuyền đáo giang tâm bổ lậu trì!
Nghĩa là:
Ngựa đến vực thẳm, thâu cương thì quá trể.
Thuyền tới giữa dòng, vá lỗ chậm lắm thay!

Ai bảo lúc chưa bịnh, cứ làm việc hồ đồ, không biết lo giữ gìn thân mình. Bịnh khổ như vậy, hà huống chuyện lớn sinh tử.

"Tử hậu phương tri thác dụng tâm," chết rồi mới biết mình dùng tâm sai lầm. Bình thường mình không chịu kiểm điểm, đến khi xuống tới Diêm-vương mới biết rằng, lúc sinh tiền mình làm những chuyện không chính đáng, những chuyện sai lầm. Lúc sống thấy người niệm Phật, thì mình phỉ báng, nói rằng họ mê tín; cười cho là họ ngu si. Bây giờ có hối hận thì đã muộn rồi! Sự đau khổ trong núi kiếm và vạc dầu như thế nào, tự mình chiêu cảm lấy. Cho nên "Ngựa khi đã tới bờ vực thẳm mới gò cương thì quá trể. Thuyền đến giữa dòng rồi mới vá chỗ thủng thì quá chậm." Cho nên ai kêu mình không chịu chuẩn bị tương lai.

Vì thế Chu Tử nói rất hay: "Nghi vị vũ nhi trù mâu, vật lâm khát nhi quật tĩnh." Nghĩa là khi trời chưa mưa thì mình phải lo sắp đặt trước; thí dụ như sửa mái nhà. Khi chưa mưa xuống mình phải mau mau chuẩn bị đối phó những chuyện sẽ xảy ra lúc trời mưa. Như ở miền bắc Trung Hoa vì những cửa sổ làm bằng giấy, nên trước khi mưa, cửa sổ cần dán kín. Nếu cửa không dán kỹ trời mưa sẽ ướt đồ vật bên trong. Ðợi mưa mới đi dán cửa sổ thì đã quá muộn rồi. Ðừng chờ tới lúc khát rồi mới đào giếng. Như những người ở nơi xa xăm không có ống nước dẫn nước lại, họ phải nghĩ cách để giải quyết vấn đề cung cấp nước. Không phải chờ đến lúc khát rồi mới đi đào giếng; như vậy thì quá trể.

Mình học Phật cũng vậy, phải hiểu rằng mọi sự vô thường, không ai thoát được cái chết. Tại sao mình không lo chuyện hạ thủ công phu để giải quyết cái chết? Cho nên:

Nhược yếu nhân bất tử,
Tiên hạ tử công phu.
Nghĩa là:
Mình nếu muốn không chết,
Thì phải tu hết mình.

"Tử công phu" (tu hết mình), có nghĩa là giống như ngày hôm nay mình đả thất, niệm danh hiệu Bồ-tát. Ðả thất, thứ nhất là cầu thế giới hòa bình; thứ hai là vì chuyện về sau của chính bản thân mình. Thế cũng giống như chưa mưa mà mình đã chuẩn bị trước. Mình đả thất thì năm nào cũng phải tham gia, không thể gián đoạn, như vậy mới có thể kết được đại nhân duyên với A Di Ðà Phật và Quán Thế Âm Bồ-tát. Mình cần phải niệm Ðức A Di Ðà Phật tới độ là coi Ngài như sư phụ của mình, xem Ngài Quán Thế Âm Bồ-tát như là người bạn của mình. Nếu như được làm đệ tử của Phật, làm bạn của Bồ-tát, trải qua nhiều năm tháng, tự nhiên mình cũng sẽ trở thành bạn thân của các vị đó. Như vậy thì chư Phật Bồ-tát sẽ tiếp dẫn mình về thế giới Cực-lạc vào phút cuối cùng. Quý-vị đừng nên hồ nghi, bởi vì:

Tu Ðạo chi nhân tâm mạc nghi,
Nghi tâm nhất khởi tiền đồ mê.
Nghĩa là:
Lòng người tu Ðạo chớ ngờ nghi,
Nghi ngờ nổi dậy liền mờ mê.

Nghĩa là người tu Ðạo chớ có tâm nghi ngờ, khi lòng nghi nổi dậy thì đi vào sự mê mờ. Chúng ta nên nghe lời của thiện-tri-thức, không nên có lòng nghi ngờ. Thí dụ như thiện-tri-thức nói tu hành cần phải có khổ công, thì mình phải tin như vậy. Nếu mình có lòng tin một cách triệt để nhất định sẽ được minh tâm kiến tánh, phản bổn hoàn nguyên. Do đó mình phải thường nghe lời chỉ dạy của bậc thiện-tri-thức. Nếu vị đó dạy mình "niệm Phật" thì mình nhất định phải theo lời mà niệm Phật; nếu vị ấy dạy mình "đừng buông lung" thì mình không được buông lung, đó là yếu quyết của việc tu Ðạo vậy.

Như đã nói trên: "Bịnh rồi mới biết thân này khổ." Bởi vì con người mà không trải qua một cơn bịnh khổ thì không chịu phát tâm tu hành đâu. Do vậy, kẻ chưa bịnh thì không hiểu sự thống khổ.

Lại có câu rằng: "Phú quý tu đạo nan." Nghĩa rằng người giàu tu đạo rất khó, bởi vì việc gì cũng như ý cả thì làm sao họ nghĩ đến chuyện tu. Do đó nghèo với bịnh là thứ trợ duyên cho việc tu Ðạo. Bịnh đến thì mình đừng âu lo, nghèo khốn cũng chớ ưu sầu. Có bài kệ như sau:

Ngã kiến tha nhân tử,
Tử tâm nhiệt như hỏa,
Bất thị nhiệt tha nhân,
Tiệm tiệm luân đáo ngã.
Nghĩa là:
Ta thấy người ấy chết,
Lòng ta nóng như lửa,
Chẳng phải nóng cho người,
Mà từ từ lửa tới ta.

Nghèo khốn hay bịnh hoạn hẳn nhiên giúp mình trưởng dưỡng tâm tu Ðạo. Cũng như khi thấy người khác nghèo khốn, bịnh khổ, già chết, mình cũng phải phát tâm như thế. Ðời người giống như: "Trường giang, hậu lãng thôi tiền lãng." Nghĩa là "Sông Trường giang, sóng sau đẩy sóng trước." Nếu mình kịp thời phát nguyện vãng sinh, lúc gần chết, mình sẽ có sự chuẩn bị. Không vậy, lúc ấy mình hoảng sợ không biết cách đối phó. Giống như đất nước nếu không trải qua một cơn biến loạn thì nhân dân chỉ thích sống trong cảnh sung sướng an lạc, không màng đến chuyện bảo vệ đất nước. Hiện tại Phật-giáo cũng như vậy, người ta không nghĩ cách để phục hưng Phật-giáo, nên Phật-giáo đi vào tình trạng ủy mị.

Vì vậy mình phải đề xướng Phật-giáo; trách nhiệm không phải chỉ ở các vị Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, mà ở tại mỗi tín đồ Phật-giáo. Nếu như mỗi người chúng ta đều tự nhận trách nhiệm, thì lo gì Phật-giáo không phát triển! Hiện tại có những tín đồ Phật-giáo cho rằng đạo Phật không bằng những ngoại đạo thời nay, chẳng những họ không dám nhận mình là Phật-giáo đồ, thậm chí còn a dua với kẻ khác chê bai Phật-giáo là mê tín. Quý-vị thấy như vậy có phải là đáng thương lắm không? Giống như ở Cửu Long (Kowloon) nơi Ðạo Phong Sơn có một đoàn thể ngoại đạo chuyên thu nạp những Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni trong Phật-giáo, tới đó để trải qua một phiên cải tạo làm cho họ mất đi gốc gác rồi trở ra phỉ báng Phật-giáo.

Do đó chân chính tin Phật thì dù chết cũng không thay đổi, luôn luôn đề cao chí khí của mình, không vì kẻ khác chê cười, không vì lợi ích mà thay đổi chí của mình. Nếu như mọi người không quên mình là tín đồ Phật-giáo thì Phật-giáo chắc chắn sẽ phục hưng.

Tuy những thứ ngoại đạo hiện đang hưng thịnh, nhưng chỉ nhất thời mà thôi. Bởi vì thiên đạo thì tuần hoàn: Vật tới cùng cực thì sẽ quay ngược lại. Quý-vị đừng để cái vẻ bên ngoài của chúng làm dao động tâm trí mình. Chân lý thì bất diệt, sự phục hưng của Phật-giáo thì hoàn toàn dựa vào nỗ lực của đại chúng.

Giảng ngày 17 thánhg 6 năm 1958
Hòa thượng Tuyên Hóa


 

LỜI KHAI THỊ CỦA ẤN QUANG PHÁP SƯ VĂN SAO TỤC BIÊN (Quyển Thượng)

Email In
Share


NGƯỜI HỌC PHẬT, BAN ĐÊM ĐỪNG NGỦ TRẦN TRUỒNG, PHẢI MẶC ÁO, QUẦN ĐÙI, TÂM THƯỜNG NHƯ ĐỐI TRƯỚC PHẬT.

CƠM NGON ĐẾN ĐÂU ĐI NỮA CHỈ ĂN ĐẾN TÁM CHÍN PHẦN. HỄ ĂN QUÁ NHIỀU, TÂM HÔN TRẦM, THÂN MỎI MỆT, TIÊU HÓA CHẲNG KỊP, ẮT PHẢI XÌ HƠI. LÊN NIỆM PHẬT ĐƯỜNG, MÙI HÔI THỐI ẤY XÔNG SỰC ĐẾN TAM BẢO, TƯƠNG LAI ẮT SANH LÀM GIÒI TRONG HẦM PHÂN.

TÙY TIỆN KHẠC ĐÀM HỈ MŨI LÀ CHUYỆN TỔN PHƯỚC LỚN LẮM! ĐẤT PHẬT THANH TỊNH, CHẲNG NHỮNG TRONG ĐIỆN ĐƯỜNG CHẲNG ĐƯỢC KHẠC NHỔ, HỈ MŨI, MÀ NGAY CẢ TRÊN CUỘC ĐẤT SẠCH PHÍA NGOÀI ĐIỆN ĐƯỜNG CŨNG CHẲNG NÊN!

Người học Phật nên giữ tấm lòng tốt lành, nói lời tốt lành, làm chuyện tốt lành. “Giữ tấm lòng tốt lành” là phàm những ác niệm nghịch trời trái lý, tổn người lợi mình đều chẳng cho khởi lên. Nếu khởi lên bèn lập tức sanh lòng hổ thẹn, sám hối khiến cho nó tiêu diệt ngay. Phàm những tâm hiếu, đễ, trung, tín, lễ, nghĩa, liêm, sỉ, lợi người, lợi vật đều thường gìn giữ, hễ sức làm được bèn sốt sắng làm. Chẳng thể làm thì tâm cũng thường nghĩ đến điều ấy.

“Nói lời tốt lành” là phải nói những lời có ích cho người, hữu ích cho vật; chứ không phải là muốn cho người khác nghe xong vui sướng mà gọi là lời tốt lành! Như giáo huấn con cái và khuyên người làm lành, khuyên người kiêng ác, khuyên người giữ vẹn luân thường, khuyên người tu phước v.v… “Làm việc tốt lành” là tích cực làm những chuyện hiếu dưỡng cha mẹ, tôn kính anh, hòa thuận với họ hàng, sửa đổi phong tục [cho tốt đẹp hơn].

Phàm tụng kinh, lễ Phật, niệm Phật, bái sám, các Phật sự đều phải thân tâm cung kính!

Người học Phật ban đêm đừng ngủ trần truồng, phải mặc áo, quần đùi, tâm thường như đối trước Phật. Ăn cơm chớ nên quá mức. Cơm ngon đến đâu đi nữa chỉ ăn đến tám chín phần [là tối đa]. Ăn mười phần đã chẳng có ích cho người; ăn mười mấy phần ắt tạng phủ bị thương tổn. Thường ăn như thế nhất định bị đoản thọ. Hễ ăn quá nhiều, tâm hôn trầm, thân mỏi mệt, tiêu hóa chẳng kịp, ắt phải trung tiện. Chuyện trung tiện là chuyện tệ nhất, là chuyện gây nên tội lỗi lớn nhất.

Nơi Phật điện, tăng đường, đều phải cung kính; như thắp hương chẳng qua để biểu lộ tấm lòng, chứ xét rốt ráo ra, chẳng có loại nào đáng xem là hương cả! Nếu ăn nhiều, vãi trung tiện hết sức hôi thối, khiến cho hơi thối ấy xông sực Tam Bảo, tương lai ắt sanh làm loài giòi trong hầm phân. Chẳng ăn quá mức sẽ chẳng phóng trung tiện! Nếu như dùng chất lạnh, cảm thấy không ổn, hễ vô sự bèn đi ra chỗ trống xả ra, đợi đến khi tan mùi lại quay vào trong thất. Nếu có việc chẳng ra ngoài được, hãy nên dùng sức kềm lại, chưa đầy một khắc nó sẽ tan mất trong bụng. Có người nói chẳng phóng ra sẽ thành bệnh; lời lẽ này còn nặng tội hơn chuyện phóng trung tiện, vạn phần chớ nghe theo. Đức Phật chế giới luật chưa nhắc đến sự này; có lẽ cổ nhân thân thể khỏe mạnh, lại không tham ăn, không có chuyện này, cho nên không nói đến.

Nếu có, ắt Phật phải nói. Chớ nói Phật không cấm cho nên cứ việc phóng, đấy chính là tự cầu đọa lạc, Phật cũng khó cứu! Khổng Tử dùng tư cách của bậc thánh nhân triều kiến bậc quốc quân (vua một nước) phàm phu, khi sắp lên điện, ở dưới thềm, còn chẳng dám thở mạnh, huống chi lúc đã vào điện gặp mặt vua! Vì thế, sách Luận Ngữ chép: “Nhiếp tề thăng đường, cúc cung như dã. Bình khí tự bất tức dã” (Nâng vạt áo lên điện, khom mình như thế đó, nín hơi như không thở) (Nhiếp 攝: Nâng. Tề 齊, đọc như Tư 咨12 , nghĩa là vạt áo. Cúc 鞠: uốn cong. Bình 屏: giấu kín. Tức 息: hơi thở từ trong mũi. Khổng Tử triều kiến vua, lúc sắp lên điện, trước hết đi khom mình. Do khom mình nên vạt áo trước dài hơn, cho nên phải nâng hai mép vạt áo lên cách mặt đất khoảng chừng một thước mới chẳng đến nỗi đạp lên áo, vấp té, thất lễ. Nghiêm túc đến cùng cực, cho nên hơi thở trong mũi tựa hồ chẳng thoát ra. Hãy thử xem Ngài kiêng dè đến mức độ nào? Người đời nay so với Khổng Tử kém xa lắm, vua khi ấy so với Phật lại kém thật xa nữa! Phóng trung tiện so với thở ra lại càng khác xa lắm. Im lặng suy nghĩ, khác gì đại địa chẳng có chốn dung thân, há chẳng cực lực lưu tâm ư?)

Chúng ta là nghiệp lực phàm phu ở trong Phật điện của bậc Thánh Trung Thánh, Thiên Trung Thiên (thánh của các thánh, trời của các trời), nơi có đủ Tam Bảo, sao dám chẳng kiềm chế, mặc tình trung tiện ư? Tội lỗi ấy lớn nhất không gì sánh bằng! Có lắm kẻ do chẳng xem nhiều trước thuật của cổ đức, nên tưởng là cổ đức không nói đến. Chẳng biết cổ đức nói rất khéo, gọi đó là “tiết hạ khí” (hơi rỉ ra từ bên dưới). Họ cũng chẳng hiểu câu đó có nghĩa là gì, chẳng thèm để ý. Ba mươi, bốn mươi năm trước, Quang thường nói đến chuyện này, sau thử hỏi lại, người ta chẳng biết là chuyện gì! Do vậy, tốt nhất cứ nói thẳng là “trung tiện”. Trong tuồng hát, hễ chửi người khác nói buông tuồng bèn nói: “Lời ngươi nói như thả rắm”. Phàm có chuyện gì kinh sợ, đều chẳng dám thở mạnh, làm sao còn đánh trung tiện được? Do buông tuồng không kiêng dè, nên mới trung tiện! Chớ có nói “nhắc đến chuyện trung tiện nghe không nhã”, thật ra, tôi vì muốn tạo cách cứu người khỏi bị làm giòi trong hầm phân! Sáng dậy và lúc đại tiểu tiện xong, phải rửa tay. Phàm sờ lên thân, mò xuống chân đều phải rửa tay.

Những tháng mùa Hạ ống quần chớ buông thùng thình, phải bó lại. Tùy tiện khạc đàm hỉ mũi là chuyện tổn phước lớn lắm! Đất Phật thanh tịnh, chẳng những trong điện đường chẳng được khạc nhổ, hỉ mũi, mà ngay cả trên cuộc đất sạch phía ngoài điện đường cũng chẳng nên khạc nhổ, xỉ mũi. Nhổ trên đất sạch sẽ tạo thành vẻ dơ bẩn! Có kẻ luông tuồng chẳng kiêng dè, khạc bừa ra đất hay khạc lên vách trong phòng! Một gian phòng đẹp đẽ mà khắp đất, đầy tường toàn là đàm. Kẻ ấy khạc đàm để ra vẻ hống hách, lâu ngày thành bệnh, hằng ngày thường khạc; tinh hoa của đồ ăn thức uống đều biến thành đàm hết. Nếu chịu nuốt đàm xuống, lâu dần không còn đàm nữa. Đấy là cách hay nhất để dùng đàm diệt đàm. Nếu chẳng thể nuốt xuống nên bỏ một cái khăn lau đàm trong tay áo, khạc lên đó xong lại bỏ vào trong tay áo. Cách này cũng vừa mệt người, lại không sạch sẽ, chẳng bằng nuốt xuống, vừa không mệt người, vừa chẳng ô uế, lại vĩnh viễn không bị bệnh đàm. Đây là cách hay nhất để trị bệnh đàm.

Người học Phật nhất cử nhất động đều phải lưu tâm. Đối với việc niệm Phật phải chí thành. Nếu khi nào trong tâm khởi lên đau buồn, đấy cũng chính là tướng thiện căn phát hiện, chớ nên để thường xảy ra như thế. Nếu không, sẽ bị ma bi thương dựa vào. Phàm có chuyện gì thích ý, chớ nên hoan hỷ quá mức. Nếu không, ắt bị ma hoan hỷ dựa. Lúc niệm Phật, mí mắt nên rủ xuống, chớ nên căng thẳng tinh thần quá mức đến nỗi tâm hỏa bốc lên, rất có thể bị những chứng bệnh ngứa đầu, đau đầu v.v... cần phải điều hòa cho thích đáng. Niệm lớn tiếng thì chẳng được cố sức quá mức để khỏi bị bệnh. Lần chuỗi niệm có thể ngừa được sự lười nhác, nhưng lúc tịnh tọa chẳng được lần chuỗi, hễ lần chuỗi thì ngón tay động nên tâm chẳng định được, lâu ngày ắt thành bệnh.

Xem kinh luận và các loại sách vở chớ nên vội vã. Phải xem nhiều lần, xem gấp rút sẽ chẳng thể ngưng lặng được, khó lòng thấu đạt ý chỉ. Kẻ hậu sinh hơi thông minh, được một bộ kinh sách bèn quên ăn bỏ ngủ để xem, coi một lần là xong liền. Lần thứ hai không còn hứng thú xem nữa. Dù có xem, cũng giống như vẻ mất hồn ngơ ngẩn. Những loại người này đều chẳng thể thành tựu, hãy nên tận lực ngăn ngừa! Tô Đông Pha nói: “Cựu thư bất yếm bách hồi độc. Thục độc thâm tư tử tự tri” (Sách cũ trăm lần xem chẳng chán; đọc kỹ, nghĩ sâu ắt tự biết).

ẤN QUANG PHÁP SƯ VĂN SAO TỤC BIÊN (Quyển Thượng)


_()_ XIN THƯỜNG NIỆM A DI ĐÀ PHẬT _()_

Lần cập nhật cuối ( Thứ tư, 17 Tháng 1 2018 20:25 )
 

CÁI NHÌN THEO CHÁNH PHÁP

Email In
Share

Hỏi: Quan Công (Quan Vân Trường) có phải là bồ tát ? Trong chùa có nên thờ Ngài không, vì tôi thấy bây giờ có nhiều chùa thờ ngài ? Tôi cũng thấy 1 lá sớ cầu an quý thầy có sử dụng, trên đó ghi rằng: “Phục Ma Đại Đế Quan Thánh Đế Quân Bồ Tát”, không biết loại sớ này xuất phát từ đâu ? Có nên chăng sử dụng lá sớ ấy trong nghi lễ Phật giáo ?!




Đáp: Có rất nhiều người hỏi nay - chúng tôi mới đủ nhân duyên, mạn phép nêu ra đôi lời.

Cần phải thừa nhận rằng có rất nhiều ngôi chùa trên đất nước Việt Nam có thiết bàn thờ riêng, thờ Quan Công (Quan Vân Trường).

Cứ “Nhị Thập Ngũ Biệt sử” – Tục Hậu Hán Thư, quyển 16 thì Quan Vũ tự là Vân Trường.

Theo “Tam Quốc Chí diễn nghĩa” của La Quán Trung thì Quan Vũ chí là Đệ nhị đại ca trong 3 anh em kết nghĩa vườn đào (Lưu Bị, Quan Vũ và Trương Phi). Trong ba anh em, có lẽ Quan Vũ là 1 nhân vật kỳ đặc, vì hội đủ tính cách của 1 bậc “quân tử” theo tiêu chuẩn Nho gia.

Trong cuộc đời binh nghiệp của Quan Vũ, ông là 1 dũng tướng có tài năng thực thụ. Truyền thuyết “qua 5 thành chém rơi đầu 6 tướng” (quá ngũ quan, trảm lục tướng) đã chứng tỏ năng lực chiến đấu & khí chất gan dạ của Quan Vũ. Trong 1 sự kiện khác, khi Tào Tháo tạo sự nghi kỵ giữa 2 anh em là Lưu Bị và Quan Vũ, bằng cách để Quan Vũ & chị dâu (phu nhân Lưu Bị) ở chung 1 phòng. Quan Vũ đã chứng tỏ chí khí của mình bằng hành động thức suốt đêm & cầm 1 ngọn đuốc trên tay, gác cho chị dâu mình an nghỉ. Truyền thuyết và dã sử đã thêu dệt nên rất nhiều huyền tích về nhân vật lịch sử này !.

Theo tiêu chuẩn đạo đức Nho gia nói riêng và tiêu chuẩn phổ biến về đạo đức thì có thể coi Quan Vũ là 1 nhân vật có đời sống đạo đức đáng trân trọng.

Tuy nhiên, nếu chỉ dựa vào đó mà cho Quan Vũ là 1 vị Bồ tát, và đưa vào thờ trong chánh điện với vai trò là 1 vị Hộ pháp, đứng ngang hàng với các vị Hộ pháp Bồ tát khác thì vẫn chưa đủ lý do thuyết phục.

Trong trường hợp này có rất nhiều cách lý giải khác nhau. Theo chúng tôi đầu tiên:

- Dựa vào lý do bất thành văn của dân gian “Sinh làm tướng thì chết làm thần”. Vin vào lý do này, nhiều anh hùng nghĩa sĩ đã được lập đền thờ để tưởng nhớ & trong các vị thần ấy đã có 1 số vị công thần, nghĩa sĩ được thờ trong chùa.

Vì sao vậy? Vì có 1 số ngôi chùa, trước đây là đền thờ của làng, của họ tộc. Sau đó, do nhiều lý do khác nhau nên “Đền” từng bước chuyển thành “Chùa” và từ khi trở thành 1 ngôi chùa thì cố nhiên các vị thần được thờ trước đây cũng nghiễm nhiên “yên vị” trong ngôi chùa mới đó.

Điều này có thể thấy trong thực tế, vì ngoài Quan Vũ ra, có rất nhiều ngôi chùa thờ Thành hoàng, Trần Hưng Đạo, Quang Trung, Trần Thủ Độ... (chùa Bộc, chùa Cầu Đông Hà Nội)

- Ngoài ra, 1 trong những điểm đặc thù của Phật giáo Việt Nam là sự hòa quyện mạnh mẽ với tín ngưỡng dân gian trong giai đoạn sơ kỳ, cho nên có nhiều sự hòa quyện tín ngưỡng dân gian trong việc thờ phụng.

Tuy nhiên, theo Hòa thượng Khánh Anh trong tác phẩm “Phật giáo vấn đáp” (Thành hội Phật giáo Tp. Hồ Chí Minh, 1996) cho rằng:

Nhân 1 hôm ngài Trí Giả đại sư (thuộc Thiên Thai tông) đang đi tìm 1 thế đất đẹp để lập chùa. Tương truyền, vùng đất Sư đến có rất nhiều yêu quái. Thế nhưng, với đức độ của Sư, yêu quái tan mất & không còn tác quai tác quái nữa. Một đêm nọ, Sư đang ngồi thiền thì thấy có 1 người ăn mặc như các vị tướng thời xưa, đến thưa rằng:

“Tôi là Quan Vũ, là nghĩa thần của Tây Thục thời xưa, chết có công lớn nên ở núi này. Đại sư là bậc Thánh, sao nhọc gót chân ?”

Đại sư nói: “Với cuộc đất đây muốn dựng 1 ngôi chùa để đền ơn ân đức sinh thành.

Thần nói: “Đệ tử và con của đệ tử là Quan Bình, dựng chùa dâng cúng, xin giữ Pháp Phật, cầu Sư nhập định 7 ngày để đợi làm”.

Sư xuất định thấy bữa trước nơi đây là đầm sâu nghìn trượng mà nay hóa ra đất bằng, có 1 ngôi chùa mới được xây dựng.

Một thời gian sau, thần lại gặp Sư và xin nguyện thọ trì 5 giới. Từ đấy thần (Quan Vũ) đã trở thành đệ tử của Phật vậy.

- 1 giả thuyết khác, khi Quan Vũ bị Lã Mông lập mưu chém bay đầu, Quan Vũ cỡi ngựa đi tìm đầu của mình khắp nơi và Thiền sư nghe được "tiếng gọi của Quan Vân Trường" - "Trả đầu cho ta!".

- Một hôm, gặp thiền sư Phổ Tịnh (Phổ Tịch ?) chặn lại hỏi: "Ngài qua năm cửa trảm sáu tướng, giết người vô số, vậy ai trả đầu cho bọn họ?".

- Vị đại sư này sau đó đã giảng giải Phật pháp cho Quan Vũ, khiến Quan Công hổ thẹn ngộ lý nhân duyên mà xin được truyền thụ "tam quy ngũ giới", trở thành đệ tử Phật môn.

Như vậy, từ những cơ sở nên trên thì Quan Vũ chưa thể xứng tầm là 1 vị Bồ Tát. Nếu có chăng là 1 Phật tử tại gia có những hành động mang “dáng dấp” là hành trạng của 1 vị Bồ Tát. Và lẽ tất nhiên, với cương vị này, việc hộ trì Phật pháp là 1 thuộc tính kéo theo của 1 Phật tử tại gia.

Cho nên, theo quan điểm riêng của chúng tôi, nếu như ngôi chùa nào đó từ trước đến nay đã thờ Quan Vũ thì có thể xem đây là 1 vị Ưu bà tắc (Cư sĩ nam) có công hộ trì Phật pháp.

Nếu như 1 ngôi chùa nào đó chưa thiết lập bàn thờ Quan Vũ thì không nên thờ tự, vì như đã nói, ủng hộ Phật Pháp - nếu có – thì ngoài Quan Vũ ra còn có rất nhiều Thiên long bát bộ, thiện thần, thập phương bá tánh.

Nếu như phải thờ tất cả thì e không tiện, mà đã không thờ riêng từng vị thì hà cớ gì chỉ thờ riêng 1 mình Quan Vũ ???



*** Trong lá sớ cầu an mà quý Phật tử thắc mắc, thiển nghĩ đây là 1 lá sớ không chính xác trong danh xưng, tên gọi. Cho nên, trong nghi lễ Phật giáo, đặc biệt là lễ Cầu An không nên dùng loại sớ này.

Vì đây có thể coi là sự pha trộn giữa tín ngưỡng dân gian & niềm tin Phật giáo. Nhận đây, cũng cần nói thêm rằng, có 1 là sớ cúng Quan Thánh trong nghi lễ dân gian mà trong đó có câu: “Tại Nho, tại Đạo, tại Thiền, nhân nhân chiêm ngưỡng, hộ quốc, hộ dân, hộ vật, đại đại tôn sùng...” (Dù ở Nho, Phật và Đạo, ai ai cũng chiêm ngưỡng, lo cho nước, cho dân, cho vật đời đời tôn sùng).

Từ đây có thể thấy, tín ngưỡng Quan Thánh (Quan Vũ, Quan Công) là 1 tín ngưỡng dân gian NẰM NGOÀI PHẬT GIÁO. 
---

P/s: - Nhưng thay vì thờ Quan Vân Trường, mọi người có thể thờ Đức Lý Thái Tổ, Trần Hưng Đạo, Đức Nguyễn Trung Trực hoặc Đại tướng Võ Nguyên Giáp... Vì các cụ đều là tướng giỏi, đánh cho giặc chạy muốn sấp mặt!! Nếu nói về sự tài giỏi hoặc chiến công thì Bác Giáp hơn hẳn Quan Vân Trường, chẳng qua do lâu đời và do được thổi phồng và thần thánh hóa thôi!!

Nhưng lưu ý, thờ “các cụ nước mình” thì cúng khác và đặt ảnh để trang trí là khác nhau hoàn toàn nhé! Nếu lập bàn thờ thì phải cao hơn bàn thờ gia tiên nhưng thấp hơn bàn thờ Phật! Vẫn phải có bát hương, hoa, trà, quả...!

Chúc cả chùa tinh tấn và có cái nhìn đúng đắn. Còn về mặt phong thủy thì mình không tiện bàn ở đây. Nói chung là không nên chưng chơi hay thờ.


Nam Mô Phật.

Lần cập nhật cuối ( Thứ năm, 11 Tháng 1 2018 17:36 )
 
Trang 2 trong tổng số 6 trang.
Bạn đang ở: Trang chủ Khai Thị