Bình chọn

Bạn biết đến Chùa Tự Tâm thông qua phương tiện nào?
 

Hình ảnh

  • 1256530_497479667013867_1014200401_n.jpg
  • 1289834_496972933731207_2129934441_n.jpg
  • 1305453_496972930397874_502961374_n.jpg
  • 1369081_496971993731301_1220368879_n.jpg
  • 1371508_496971997064634_1116290538_n.jpg
  • 1374406_496972943731206_2081264957_n.jpg
  • 1375658_497479367013897_1781351274_n.jpg
  • 1376863_496972950397872_816092381_n.jpg
  • 1377041_497480443680456_1164263196_n.jpg
  • 1377338_497480140347153_1549967075_n.jpg
  • img_3463.jpg
  • img_3493.jpg
  • img_3507.jpg
  • img_3521.jpg
  • img_4232.jpg
  • img_4240.jpg
  • img_4248.jpg
  • img_4346.jpg
  • img_4383.jpg
  • img_4427.jpg

Thông tin liên hệ

  • - Địa chỉ: Hẻm 426 đường Phan Bội Châu, tổ 17 khối 2, phường Thành Nhất, Tp Ban Mê Thuột, ĐăkLăk, Việt Nam
  • - Sư cô Thích Nữ Liên Tâm
  • - Email: chuatutam@gmail.com

Lịch Âm Dương

Nhạc Phật hay

You must have Flash Player installed in order to see this player.

Thống kê truy cập

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay276
mod_vvisit_counterHôm qua430
mod_vvisit_counterTuần này276
mod_vvisit_counterTuần trước3225
mod_vvisit_counterTháng này9586
mod_vvisit_counterTháng trước21843
mod_vvisit_counterTất cả1330319

Có: 58 khách trực tuyến

Tinh thần Trần Nhân Tông

Email In
Share


Vua Trần Nhân Tông là vị vua thứ 3 của triều đại Nhà Trần (1225-1400), một trong những triều đại thịnh trị nhất trong lịch sử Việt Nam.

Vua tên thật là Trần Khâm, sinh ngày 7 tháng 12 năm 1258 (nhằm ngày 11 tháng 11 năm Mậu Ngọ), là con trưởng của Vua Trần Thánh Tông và Hoàng Hậu Nguyên Thánh Thiên Cảm Trần Thị Thiều. Theo Đại Việt Sử Ký Toàn thư, Trần Nhân Tông được vua cha truyền ngôi vào ngày 7 tháng 12 năm 1278 (nhằm ngày 22 tháng 10 năm Mậu Dần), lúc ông 20 tuổi.

Đến tháng 8 năm 1282, có tin báo quân Nguyên chuẩn bị xâm lược nước ta. Tháng 10 năm đó vua tổ chức Hội nghị Bình Than, hội ý tất cả vương hầu, quan chức để chuẩn bị chống giặc.

Đến tháng 12 năm 1284, quân Nguyên viện cớ mượn đường đánh Chiêm Thành, bắt đầu động binh sang nước ta. Vua cùng Thượng hoàng Thánh Tông triệu tập Hội nghị các bô lão ở điện Diên Hồng, nêu rõ sự đồng lòng quyết tâm chống giặc ngoại xâm.

Từ năm 1284 đến tháng 3 năm 1288, vua Trần Nhân Tông cùng các tướng lãnh dưới quyền chỉ huy đánh bại liên tiếp 2 đợt xâm lược của quân Nguyên. Đợt thứ nhất vừa kết thúc vào tháng 6 năm 1285 thì đợt thứ hai đã bắt đầu từ tháng 11 năm 1287. Mặc dù vậy, nhờ có sự đồng lòng quyết tâm chống giặc của quân dân nhà Trần, cuối cùng binh tướng nhà Nguyên cũng bị đánh tan tác, các tướng soái bỏ mạng rất nhiều, trong đó có cả nguyên soái Toa Đô và thái tử Thoát Hoan.

Ngày 9 tháng 4 năm 1293 (nhằm ngày 9 tháng 3 năm Quý Tỵ), Vua Trần Nhân Tông truyền ngôi cho con là Thái Tử Trần Thuyên, tức Vua Trần Anh Tông, rồi lên làm Thái Thượng Hoàng. Ông trị vì Nước Đại Việt 14 năm, từ cuối năm 1278 tới tháng 4 năm 1293.

Tháng 8 âm lịch năm 1299, Vua Trần Nhân Tông lên núi Yên Tử, nay thuộc Tỉnh Quảng Ninh, Miền Bắc Việt Nam, xuất gia làm tu sĩ Phật Giáo và thực hành khổ hạnh đầu đà, lấy hiệu là Hương Vân Đại Đầu Đà. Ngài còn có Đạo Hiệu là Trúc Lâm Đại Đầu Đà, Trúc Lâm Đại Sĩ và Giác Hoàng Điều Ngự. Ngài đã thành lập Thiền Phái Trúc Lâm Yên Tử, là dòng Thiền mang bản sắc đặc thù của Phật Giáo Việt Nam, còn truyền mãi đến ngày nay.

Tổ Sư Trần Nhân Tông viên tịch vào ngày 16 tháng 12 năm 1308 (nhằm ngày mồng 3 tháng 11 năm Mậu Thân) tại Ngọa Vân Am trên Núi Yên Tử.

Vua Trần Nhân Tông có hai sự nghiệp chói sáng muôn đời trong lịch sử Việt Nam. Thứ nhất là sự nghiệp giữ nước và phát triển đất nước trong vai trò của vị minh quân Trần Nhân Tông. Thứ hai là sự nghiệp truyền bá Phật Pháp, mà nổi bật nhất là sáng lập dòng Thiền Trúc Lâm Yên Tử, của Tổ Sư Trần Nhân Tông.

Trong sự nghiệp giữ nước và phát triển đất nước, Vua Trần Nhân Tông đã hai lần đánh bại quân Nguyên của Đại Đế Hốt Tất Liệt vào năm 1285, với đội quân xâm lược 50 vạn tức nửa triệu lính, và từ năm 1287 đến năm 1288, với 30 vạn quân, tức 300,000 lính.

Trong hai cuộc chiến chống quân Nguyên bảo vệ sơn hà xã tắc của Đại Việt, Vua Trần Nhân Tông đã cùng với Thái Thượng Hoàng Trần Thánh Tông mở hai cuộc hội nghị lịch sử, đó là Hội Nghị Bình Than năm 1282 để bàn kế sách quân sự đánh quân Nguyên và Hội Nghị Diên Hồng tháng 10 âm lịch năm 1284 để thống nhất ý chí toàn dân trong công cuộc chống lại cuộc xâm lăng của quân Nguyên.

Hội Nghị Diên Hồng là sự kiện đặc thù có một không hai trong lịch sử của dân tộc Việt Nam. Đây là lần đầu tiên một chế độ phong kiến ở Việt Nam thực hiện cuộc trưng cầu dân ý mà thực chất từ nội dung đến hình thức không khác thể chế dân chủ trong thời đại văn minh tiến bộ ngày nay. Nhờ thực thi chính sách dân chủ đó mà Vua Trần Nhân Tông đã có thể thống nhất được lòng dân và xây dựng được nội lực đoàn kết của dân tộc để cùng nhau quyết tâm chiến đấu đánh bại cuộc xâm lăng hung tàn của giặc Nguyên, một đội quân đã dày xéo vó ngựa xâm lược từ Mông Cổ, Trung Hoa đến tận các nước Đông Âu, Trung Đông và lục địa Châu Á. Do vậy, Hội Nghị Diên Hồng còn là biểu tượng sáng ngời cho thấy sức mạnh dân chủ trong công cuộc bảo vệ và phát triển đất nước.

Trong sự nghiệp truyền bá Phật Pháp, Tổ Sư Trần Nhân Tông là người khai sáng dòng Thiền Trúc Lâm Yên Tử mang bản sắc đặc thù của Phật Giáo Việt Nam lấy trí tuệ giác ngộ và giải thoát ngay trong đời này làm mục đích thành tựu và lấy đại nguyện từ bi cứu khổ muôn dân làm chỉ nam cho mọi hành hoạt truyền bá Chánh Pháp. Tinh túy của Thiền Phái Trúc Lâm nằm ở cốt tủy “Cư trần lạc đạo.” Thành tựu đạo quả giác ngộ và giải thoát để sống an lạc ngay giữa cuộc đời này, mà không cần phải đi tìm đâu xa. Đó là triết lý hành đạo xuất thế ngay trong nhập thế.

Tổ sư Trần Nhân Tông đã nhìn thấy được công năng ưu việt của Phật Pháp không những cho sự nghiệp giải thoát khổ đau đối với từng cá nhân con người, mà còn cho sự nghiệp xây dựng và phát triển xã hội và đất nước. Tổ Sư Trần Nhân Tông là đệ tử của Thiền Sư Tuệ Trung Thượng Sĩ và được ân sư giáo dưỡng tận tình. Cho nên, ngay từ lúc còn ở ngôi vị quân vương ngài đã đem tinh thần Phật Giáo để tế thế an bang, và ngài đã làm được điều đó một cách viên mãn. Đến khi xuất gia làm Tăng Sĩ, Tổ Sư Trần Nhân Tông đã không ngừng du hóa khắp bốn phương trong dân gian để đem Phật Pháp và đạo Thiền truyền bá cho mọi người cùng thực hành. Tổ Sư Trần Nhân Tông đặc biệt chú trọng đến việc quảng bá Mười Điều Thiện hay còn gọi là Thập Thiện Nghiệp Đạo, để chỉ dạy cho bá tánh tu tập theo mười điều thiện và xả bỏ mười điều ác. Đối với Tổ Sư Trần Nhân Tông, khi thần dân trong Đại Việt có thể thực hành được mười điều thiện thì quốc gia không cần luật lệ nghiêm khắc mà xã tắc và thiên hạ sẽ được thái bình thịnh trị.

Tổ Sư Trần Nhân Tông còn nhận thấy nơi Đạo Phật sức mạnh phi thường trong việc xây dựng nội lực đạo đức, văn hóa và tâm linh cho dân tộc để làm chất liệu keo sơn bền vững trong việc đối kháng lại các thế lực xâm lăng của ngoại bang và giữ vững nền độc lập tự chủ của dân tộc. Lịch sử của các triều đại về sau đã cho thấy điều đó. Khi nào đất nước thịnh trị cũng chính là lúc Đạo Phật Việt Nam hưng thịnh. Ngược lại, những lúc Đạo Phật suy vi nhân tâm ly tán chính là lúc đất nước suy vong, dân tộc lầm than điêu đứng.

Không một nhà lãnh đạo Việt Nam nào từ trước tới nay nhìn thấu suốt được vấn đề đó cho bằng Vua Trần Nhân Tông. Chính vì vậy, cả đời ngài, lúc làm Vua cũng như lúc làm Tăng Sĩ Phật Giáo, đều tận lực đem Chánh Pháp ra để thực hành và truyền bá. Có lẽ, đối với Vua Trần Nhân Tông, Phật Pháp là chiếc chìa khóa không những để mở trung tâm thức giác ngộ và giải thoát khổ đau, mà còn để mở ra cánh cửa thái bình thịnh trị và độc lập tự chủ cho cả dân tộc.

Để kết lại bài này, chúng tôi xin mượn hình ảnh vô cùng xúc động của một bậc chí tôn chí thượng trong thời phong kiến nhưng lại vô cùng khiêm hạ và nhân bản trong hành xử giữa người và người. Sách Tam Tổ thực lục tôn xưng ngài là Điều Ngự Giác Hoàng, khi ghi lại những ngày cuối cùng trước khi ngài viên tịch đã kể rằng:

“Ngày 18 [tháng 10 năm Mậu Thân], Điều Ngự đi bộ đến chùa Tú Lâm, núi Kỳ Đặc ở Yên Sinh, cảm thấy đau đầu bèn nói với hai tỳ-kheo Tử Doanh và Hoàn Trung rằng: ‘Ta muốn lên đỉnh Ngọa Vân mà sức chân không thể đi được nữa, biết làm sao đây?’ Hai tỳ-kheo thưa: ‘Hai chúng con có thể giúp Thầy tới đó.’ Khi đến Ngọa Vân, Điều Ngự cảm ơn hai Tỳ-kheo và dạy: ‘Xuống núi gắng lo tu hành, đừng xem việc sinh tử là nhàn hạ.’” (Hết trích – Cổ bản Hán ngữ trang 10, tờ b; bản Việt dịch của Thích Phước Sơn, Viện Nghiên cứu Phật học ấn hành 1995, trang 30)

Trên cương vị của một vị Thái Thượng Hoàng và hiện thời lúc ấy là Tổ sư khai sáng một dòng phái, thật dễ dàng để có được những phương tiện như võng, kiệu lên núi, nhưng ngài đã hành xử một cách dung dị và khiêm hạ với hai tỳ-kheo là học trò của chính mình, thay vì sai bảo lại khéo léo nhờ cậy, và ngài vẫn tự mình bước đi lên núi dù sức yếu phải cần đến sự dìu đỡ của hai người. Cuối cùng, khi đến được am Ngọa Vân còn không quên cảm ơn hai thầy tỳ-kheo đã giúp mình lên núi. Nếu không phải người đã thấm nhuần Phật pháp và buông xả hoàn toàn tự ngã, thật không dễ để có được những hành xử dù nhỏ nhặt nhưng vô cùng đáng khâm phục như thế.

Cho nên, tinh thần Trần Nhân Tông mà chúng tôi muốn nêu bật ở đây chính là sự thể hiện Phật pháp ngay trong đời sống, từ hình ảnh của một vị quân vương uy vũ hai lần đánh thắng giặc ngoại xâm, cho đến một bậc Thái Thượng Hoàng dù đã rời khỏi ngôi vua vẫn đau đáu một lòng thương dân yêu nước, và cuối cùng là bậc Tổ sư tôn quý khai sáng một dòng thiền nhưng vẫn luôn dung dị gần gũi với mọi người. Hình tượng đó, tinh thần đó chính là những gì mà đất nước, dân tộc Việt Nam hôm nay đang cần đến để có thể phát huy tinh thần tự chủ dân tộc, xây dựng một đất nước Việt Nam hưng thịnh, một xã hội nhân bản, đồng thời phục hoạt và phát triển nền Đạo pháp được truyền thừa từ cha ông, cũng như bảo tồn và phát huy những vốn quý của văn hoá dân tộc.

Adidaphat

 

Thêm bình luận

Security code
Làm mới

Bạn đang ở: Trang chủ Góc Tự Tâm Tinh thần Trần Nhân Tông